• Image_Hope
Thông qua các hành động của Viện Bảo tàng, thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng nhân quyền ở Châu Á.
:::

Sự kiện

Tin mới
2022-09-23

Giới thiệu về tác giả Michael Beltran đã làm phóng viên được sáu năm, ông cũng dành cả cuộc đời mình cho các phong trào chính trị. Trong vai trò là một phóng viên, ông đã đưa tin về các đề tài có liên quan đến các nhóm người yếu thế ở đất nước mình, bao gồm những câu chuyện về nhân quyền; hạn chế quyền dân chủ; Trung Quốc; chủ nghĩa can thiệp của các nước lớn trên toàn cầ; những cuộc di dời, di cư, chạy loạn do bị cưỡng chế…   Khi Philippines đang dần dần xoá bỏ lệnh giãn cách, cả nước vẫn chưa thể nguôi ngoai trước những tổn thất to lớn do đại dịch. Điều khiến người dân Philippines lo lắng nhất không phải là vi-rút, cũng không phải việc thiếu thốn vắc-xin hay tương lai sẽ ra sao… Ở Philippines có rất nhiều các đoàn thể cộng đồng, mỗi nhóm sẽ đi theo một con đường khác nhau để thực hiện lý tưởng của mình. Tương tự như vậy, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức đoàn thể, các đoàn thể văn hóa và các ngành nghề không chỉ đóng góp đáng kể cho đất nước mà còn tạo điều kiện cho những người dân yếu thế nhất được ăn no mặc ấm. Trong thời gian giãn cách xã hội, các đoàn thể cộng đồng đã đứng ra chung tay hỗ trợ giải quyết những thiếu sót. Trong thời gian này, thực phẩm và an toàn thực phẩm là một vấn đề cấp bách mỗi ngày, làm sao để những người thu nhập thấp luôn có đủ lương thực, đó là một vấn đề mà nhiều tổ chức phúc lợi xã hội phải giải quyết. Tổ chức đoàn thể và các quỹ tài trợ đã thành lập khu vườn rau và bếp ăn cộng đồng trên khắp cả nước, đặc biệt là ở các khu hộ nghèo, nơi mà nguồn lương thực thiếu thốn nhất và tình trạng an toàn thực phẩm đáng lo ngại nhất. Treo trên mái nhà là những chậu cây được làm bằng chai nhựa tái chế, dùng để trồng rau củ, các tổ chức cùng nhau thu hoạch rau củ, sau đó cùng nhau nấu đồ ăn dành cho những người thiếu thốn và đói khổ. Ngoài ra, hoạt động tương trợ lẫn nhau cũng xuất hiện ở khắp mọi nơi, đó là tủ thức ăn công cộng. Patricia Non là một nghệ sĩ, cũng là một người hoạt động xã hội ở địa phương, thực ra suy nghĩ lúc đầu của anh rất đơn giản, đó là đặt một cái bàn hoặc một cái kệ ở nơi công cộng, trên đó chứa đầy thức ăn, kèm theo dòng chữ “Hãy lấy những gì bạn cần, cho đi những gì bạn có thể”, từ đó đã thổi bùng lên phong trào hỗ trợ lẫn nhau trên khắp đất nước. Những hoạt động này đã giải quyết các nhu cầu thiết yếu hiện tại, nhưng nó cũng cho thấy sự kém hiệu quả và thiếu thoả đáng của các biện pháp ứng phó với đại dịch của chính phủ. Không có gì ngạc nhiên khi chính phủ hòng gây áp lực lên những hành động này, xem họ như“những kẻ khủng bố” đã trở thành một chủ đề lặp đi lặp lại trong chính trị mùa dịch. Trong hai năm qua, dư luận luôn tỏ thái độ hoài nghi về cách xử lý khủng hoảng của chính phủ, hoặc hầu hết dân chúng cho rằng chính phủ Duterte không có khả năng làm bất cứ điều gì trong tình cảnh giống như ngày tận thế ập đến này. Chính phủ này không giải quyết vấn đề y tế cấp bách, thay vào đó họ phong tỏa thành phố, dùng bạo lực nhà nước để khủng bố người bị nạn. Bắt đầu từ cuối năm 2018, chính quyền của Tổng thống Rodrigo Duterte đã tuyên chiến với các đối thủ chính trị. Dưới cái nhìn của Chính phủ, chỉ có những người cộng sản hoặc phần tử khủng bố (họ sử dụng hai thuật ngữ này thay thế cho nhau) mới nghi ngờ chế độ của họ. Quan trọng hơn là điều gì sẽ xảy ra sau đó? Những người chỉ trích chính trị của Chính phủ sẽ bị đánh dấu đỏ, nghĩa là những nhà hoạt động xã hội và những người có ý kiến trái chiều sẽ bị đánh đồng với những người ủng hộ hoặc tiếp tay cho thành phần cộng sản phản động, cũng đồng nghĩa rằng những người này có thể sẽ bị trừ khử. Cụ thể là, ông Duterte đã thành lập “Lực lượng đặc nhiệm quốc gia nhằm chấm dứt xung đột vũ trang của cộng sản địa phương” (National Task Force to End the Local Communist Armed Conflict, viết tắt là NTF-ELCAC). Nói thêm về bối cảnh lịch sử, nội chiến Philippines đã diễn ra hơn 50 năm, nó được phát động bởi đội quân du kích vũ trang của Đảng Cộng sản Philippines (the Communist Party of the Philippines, viết tắt là CPP) và đội quân Nhân dân mới (the New People’s Army, viết tắt là NPA). Mặc dù họ là những kẻ đối đầu cứng đầu nhất của Chính phủ Philippines trong nhiều năm, nhưng những người dân thường chỉ trích chế độ này cũng bị coi là phần tử phản động và phải chịu sự tra xét tương tự. Các chính sách của chế độ này cực đoan đến mức bất kỳ lời lẽ nào chống lại Chính phủ, cũng đều được coi là lời lẽ tuyên truyền của Đảng Cộng sản nhằm cố gắng thu hút thanh niên tham gia vào cách mạng vũ trang. Bản thân cuộc xung đột vũ trang đã cho thấy vô số các vấn đề nổi cộm mà Chính phủ chưa giải đáp được. Tại sao lại có nhiều người dân Philipines muốn đứng lên khởi nghĩa bằng vũ trang đến vậy ? Tại sao cuộc khởi nghĩa của họ lại diễn ra lâu như vậy? Sơ đồ cho một thỏa thuận hòa bình đã có từ rất lâu, nhưng cách xử lý đặc biệt của Duterte, đó là tập hợp tất cả kẻ thù lại với nhau, để cái ác cộng hưởng với cái ác và hợp lý hóa những hành động bạo lực đang ngày càng gia tăng. Cuộc truy lùng phần tử Đảng Cộng sản này làm người ta nhớ đến những gì McCarthyism đã làm trong Chiến tranh Lạnh, diễn ra cùng lúc với cuộc chiến chống ma túy đẫm máu khét tiếng của Duterte. Trong những ngày đầu mới nhậm chức, Duterte đã thi hành chuyên án “Gõ cửa thuyết phục” (Oplan Tokhang), đây là hoạt động chống ma tuý do cơ quan hành pháp chỉ đạo. Trong cuộc chiến chống ma túy này, những người bị “gắn mác” nghiện ngập hoặc buôn bán ma túy sẽ bị trừ khử một cách nghiễm nhiên, và giống như cuộc chiến chống ma túy này, các đối thủ chính trị của Chính phủ cũng chịu sự hành xử tương tự. Năm 2020, vào thời điểm dịch bệnh căng thẳng nhất cũng là giai đoạn nguy hiểm nhất đối với các nhà hoạt động xã hội. Ở yên trong nhà cũng có nghĩa là đang nằm trong tầm bắn. Với việc các nhà lãnh đạo nổi tiếng bị ám sát nhanh chóng và tàn bạo ngay tại nhà của họ, số lượng các nhà hoạt động xã hội bị xem là phần tử phản động bị giết hại cũng tăng lên rõ rệt. Jory Porquia, Randall Echanis, Zara Alvarez và Carlito Badion là một số những nạn nhân nổi tiếng của bạo lực nhà nước. Họ đều bị buộc tội là “phần tử cộng sản phản động” trước khi bị sát hại. Dưới sự tuyên truyền của quân đội, cụm từ này đã trở nên phổ biến, nhằm củng cố quan điểm cho rằng Đảng Cộng sản thì trăm phần trăm là kẻ phản động. Việc tôn sùng bất kỳ hệ tư tưởng nào ở Philippines thì đều không vi phạm pháp luật, nhưng đối với lực lượng vũ trang, phe cánh tả chắc chắn là Đảng Cộng sản, mà Cộng sản bị đánh đồng với phần tử phản động, nên kẻ phản động này phải bị tiêu diệt thẳng tay. Những hành vi tàn sát này thật đáng kinh hãi, thậm chí còn chấn động đến Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc. Và không chỉ các nhà hoạt động xã hội mới bị đánh dấu đỏ, các thành phần khác nhau trong xã hội như đại biểu Quốc hội, thành viên giáo hội, phóng viên và thậm chí cả báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc, kể cả những người nổi tiếng chỉ đơn thuần là làm từ thiện, cũng đều bị xem là phần tử phản động. Chỉ cần đưa ra những lời phê phán chính quyền thì chắc chắn cũng bị liệt vào danh sách! Philippines nắm giữ khoản tài trợ và cho vay lớn nhất để ứng phó với dịch covid, nhưng số tiền được dùng để cứu trợ lại rất rất nhỏ. Trong khi hầu hết số tiền lại chảy vào ngân khố quân đội và cảnh sát để tăng cường triển khai những chính sách của họ ở trong nước, đối với những vi phạm dù là nhỏ nhặt nhất ví dụ như không đeo khẩu trang, vị phạm lệnh giới nghiêm, hoặc thậm chí chỉ bước ra khỏi cửa nhà cũng sẽ đều bị kết án tù. Chúng ta thường nghe nói rằng, so với sợ virus, thì điều đáng sợ hãi hơn đối với người dân ở các khu ổ chuột đó là mất việc làm, mất kế sinh nhai, phải nhịn đói nhịn khát. Vào tháng 4 năm 2020, vấn đề này ngày càng nổi cộm, hàng trăm người dân nghèo ở khu ổ chuột tại thủ đô Manila đã cùng nhau phát động các cuộc biểu tình, kháng nghị việc họ không được giúp đỡ, thiếu lương thực, trong khi đó các đồng minh của ông Duterte đang khoe khoang sự giàu có và đặc quyền của mình. Những người biểu tình nhận về là những cái dùi cui và còng số tám. Trong số những người nghèo đói nhất cả nước đó có 21 người bị bỏ tù, và chỉ sau làn sóng phản đối kịch liệt trên toàn quốc xảy ra thì họ mới được tại ngoại. Vào tháng 7 năm 2020, Chính phủ thậm chí đã đơn giản hóa quy trình tàn sát mục tiêu của mình, bằng việc thông qua “Luật chống khủng bố” dù gặp phải rất nhiều ý kiến trái chiều, đây là chính sách quốc gia tàn bạo và hại nước hại dân nhất của Philippines kể từ thời kỳ thiết quân luật của chế độ độc tài trong những năm 1970-1980. “Luật chống khủng bố” là đỉnh cao của sự lố lăng của Duterte và tay sai của ông ta, luật pháp cho phép hạn chế quyền tự do dân chủ một cách vô lý. Giờ đây, chỉ cần bị nghi ngờ là phần tử phản động thì mọi người đều có thể bị bắt khi chưa có lệnh bắt giữ, định nghĩa về “phản động” được mở rộng ra phạm vi tất cả mọi người. Hầu hết những điều trên cùng xảy ra vào năm 2020. Thật không may, nó giống như vi-rút vậy, những sự kiện này đã trở thành một hệ tư tưởng cho sự phát triển của Philippines cho đến ngày nay. Thảm họa nhân quyền tồi tệ nhất trong lịch sử gần đây đang diễn ra trên đất nước này, đồng thời quyền kinh tế của những tầng lớp yếu thế nhất cũng liên tục bị tước đoạt. Sự xấu xí của Philippines không chỉ để lại những trang đen tối nhất trong hồ sơ nhân quyền của nước này, nó cũng cho thấy những sự bất bình đẳng xã hội trần trụi nhất đã được bộc lộ trong thời gian giãn cách xã hội. Ngay cả khi hậu quả của những khủng hoảng trong quá khứ không còn vướng bận nữa, thì cũng không có gì khác biệt, cuộc tổng tuyển cử vừa kết thúc vào tháng 5 năm 2022 sẽ chỉ khiến những cảm giác đó trở nên mạnh mẽ hơn. Sự vi phạm nhân quyền một cách toàn diện này đã gây ra làn sóng phản kháng chưa từng có, người dân đứng lên biểu tình, hội họp, chiến tranh trên mạng xã hội, v.v... Nhờ những nỗ lực của mạng xã hội, sự vùng dậy của dân chúng, mà họ đã giành lại được một khoảng trời nhỏ cho dân chủ và nhân quyền, nó có tác động sâu rộng trong việc ngăn chặn Philippines đi lùi lại về thời kỳ thiết quân luật đầy khắc nghiệt. Chúng ta có lý do để nuôi hy vọng. Khu vườn rau, nhà bếp và tủ thức ăn cộng đồng chỉ là một phần nào đó của sự kháng cự. Sự kháng cự có nhiều hình thức, ngày càng có nhiều người ra đường để nói lên sự phản đối, và tần suất cũng ngày càng cao. Mọi thứ sẽ tồi tệ hơn trước khi mọi thứ trở nên tốt hơn, và nhiều người dân Philippines, các tổ chức, đơn vị đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc này.

2022-09-23

Giới thiệu về Chu Cương Dũng: Chu Cương Dũng là một người theo đuổi công tác cộng đồng về vấn đề nghèo đói. Bà là người đồng sáng lập của tổ chức Do You A Flavor, tổ chức Learning From The Poor , là người giám tuyển triển lãm Đài Bắc Của Người Nghèo, đồng tác giả và xuất bản cuốn sách "Kim chỉ nam sinh tồn trên đường phố", "Tái tạo theo cách riêng: Đô thị cộng sinh-ing". Giới thiệu về tổ chức: Do You A Flavor là một tổ chức phi chính phủ nhằm góp phần giải quyết vấn đề vô gia cư và tình trạng nghèo đói trong đô thị. Kể từ năm 2014, tổ chức này tiếp tục khởi động các chương trình vận động cộng đồng và dịch vụ phục vụ trực tiếp, đồng thời liên kết với các đoàn thể cộng đồng, đoàn thể về bệnh tâm thần, về các vấn đề cư trú, lao động và giới tính…nỗ lực trở thành “nhịp cầu” đưa mọi người đi tìm hướng giải quyết các vấn đề xã hội. Tổ chức các cuộc triển lãm của người nghèo trong lòng đô thị phồn hoa “Nếu sẵn sàng nhìn lại lịch sử đã qua, chúng ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng: Thành phố Đài Bắc hoa lệ của ngày nay, thực ra được đánh đổi bằng rất nhiều sự nỗ lực, cống hiến và cả tâm huyết của những người theo đuổi mơ ước, những người tay trắng, tầng lớp lao động chân tay, những người nhập cư, người thổ cư và cả những người nghèo khổ từ nam chí bắc trong hơn một thế kỷ qua. Họ đến từ những ngọn núi cao, những miền hải đảo, hoặc từ các nước Đông Nam Á đến với Đài Bắc, bộ mặt mới của một thành phố vĩ đại được nhào nặn bằng đôi bàn tay họ. Từ một góc nhìn nào đó, Đài Bắc phồn vinh hôm nay không chỉ là Đài Bắc của những người thành đạt và giàu có, mà Đài Bắc còn là của những người khốn khổ, nghèo khó.” ——Trích từ phần Lời dẫn của Tôn Đại Xuyên, trong Đài Bắc Của Người Nghèo. Trong thế kỷ hiện nay, thế giới đã nhận định nghèo khó là một vấn đề quan trọng và cấp bách cần được giải quyết*, nhưng tiếng nói của những người nghèo ở đâu khi thảo luận về các vấn đề này? Con người là chủ thể trực tiếp cảm nhận và phản ứng với đói nghèo, có kinh nghiệm và trải nghiệm sâu sắc. Nhưng trong bầu không khí xã hội vẫn còn đầy rẫy những định kiến tiêu cực về đói nghèo, hầu hết tầng lớp người nghèo đều chọn cách che giấu hoặc phủ nhận những trải nghiệm của chính họ và trở nên im lặng. Kể từ năm 2017, đã kết hợp với các tổ chức hỗ trợ những nhóm người nằm bên rìa xã hội, như những người vô gia cư, người thổ cư trong đô thị, các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt, thanh thiếu niên cần hỗ trợ đặc biệt, người từng bị bệnh tâm thần, cùng chung tay phát động hoạt động Đài Bắc Của Người Nghèo, thông qua những hành động đề xuất hàng năm, mong muốn công chúng bước vào thế giới của người nghèo để từ đó hiểu biết thêm về vấn đề nghèo đói trong đô thị.

2022-07-20

Mục đích của cuộc họp thường niên này là để bình luận một cách nghiêm túc về quyền tự chủ tương đối và không gian hành động của các bảo tàng nhân quyền và các tổ chức liên quan, đối với các bảo tàng ở nhiều nước, đây là một vấn đề cấp bách trong thời điểm hiện tại. Những loại mối quan hệ nào tồn tại giữa các viện bảo tàng, chính phủ và những người nắm quyền khác? làm thế nào để những quan hệ trên sự phụ thuộc đó định dạng vai trò của các bảo tàng và sự tham gia của họ với các đối tượng được coi là nhạy cảm hoặc gây tranh cãi? Chúng ta lấy quyền con người làm trách nhiệm toàn cầu, các bảo tàng từ nhiều góc độ khác nhau để giải quyết các vấn đề xã hội, văn hóa, chính trị bao gồm / loại trừ, Năm nay, chúng tôi sẽ tập chung đi xa hơn nữa và lập bản đồ tình hình hiện tại. Đặc biệt, Hội nghị thường niên hoan nghênh các bài nộp về các phương pháp hay nhất mà các bảo tàng đã giải quyết hoặc thương lượng về các vấn đề không gian và xã hội mang tính khoan dung. Những phương pháp hoặc chiến lược nào để thúc đẩy sự khoan dung đã được chứng minh là đặc biệt thích hợp đối với Bảo tàng Nhân quyền? Mục đích của Hội nghị thường niên FIRHM là chia sẻ kinh nghiệm, nuôi dưỡng năng lực, xây dựng phương pháp và quản lý mối quan hệ dựa vào cộng đồng trong các hoạt động tương tác với bảo tàng. Đơn vị tổ chức Hội nghị thường niên năm 2022 của Liên minh Quốc tế các Viện Bảo tàng Nhân quyền được tổ chức bởi Mạng lưới các Viện Bảo tàng Dân chủ và Nhân quyền Na Uy (Demokratinettverket). Các bảo tàng đăng cai bao gồm Trung tâm Nobel Hòa bình, Trung tâm Nghiên cứu về nạn tàn sát và tôn giáo thiểu số của Na Uy, và Eidsvoll 1814, Bảo tàng Lịch sử Hiến pháp Quốc gia.  

Chuyên mục
2022-09-23

Giới thiệu về tác giả: Erpan Farietti Erpan Farietti là Giám đốc phụ trách của dự án Kết nối Borneo. Kết nối Borneo (Link-AR Borneo), tên đầy đủ là “Sáng kiến Borneo và Kết nối Nghiên cứu” (Advocacy and Research Circle of Borneo). Đây là một tổ chức cộng đồng dành riêng cho các chiến dịch vận động, , giáo dục và nghiên cứu về dân chủ, quyền công dân, nhân quyền, tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu ở Tây Kalimantan. Giới thiệu về đơn vị: Kết nối Borneo Kết nối Borneo (Link-AR Borneo), tên đầy đủ là “Sáng kiến Borneo và Kết nối Nghiên cứu” (Advocacy and Research Circle of Borneo), được thành lập vào ngày 2 tháng 4 năm 2009, là một tổ chức phi Chính phủ, nhiệm vụ chính là thúc đẩy các sáng kiến giải quyết vấn đề nghiêm trọng trong việc kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất và rừng của ngành khai khoáng. Ngành công nghiệp khai khoáng đóng vai trò kiểm soát tài nguyên thiên nhiên, vì lợi ích chính trị và kinh tế, khiến việc khai thác nguyên liệu thô trở thành nhiệm vụ trọng điểm, nhằm cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp lớn của thế giới. Borneo rất giàu tài nguyên thiên nhiên và do đó không thể thoát khỏi tình trạng này. Theo đó, Kết nối Borneo hoạt động dựa trên những bằng chứng và bắt tay vào công cuộc vận động chính sách, thực hiện mục tiêu hướng tới là giữ gìn lợi ích cộng đồng và môi trường bền vững. Kể từ khi thành lập, Kết nối Borneo đã hoạt động tích cực trong việc duy trì và bảo vệ nhân quyền, khuyến khích cải cách tư pháp, quản lý rừng và đất bền vững, thúc đẩy sự độc lập của cộng đồng trong các vấn đề quản lý rừng và đất. Bây giờ là lúc để xem xét lại chính sách và các biện pháp ứng phó với dịch bệnh COVID-19 của Chính phủ Indonesia, rồi các chính sách và biện pháp này ảnh hưởng đến con người như thế nào, bao gồm cả việc thực hiện và tôn trọng nhân quyền. Kể từ đầu năm 2020 (từ tháng 1 đến tháng 3), Chính phủ và các quan chức Indonesia chưa từng nghiêm túc nhìn nhận dịch bệnh COVID-19, thậm chí, họ còn xem nhẹ dịch bệnh COVID-19 và không tin vào sự tồn tại của loại virus này. Vào đầu năm 2020, phó tổng thống Indonesia nói rằng chỉ cần có sự cầu nguyện từ các nhà lãnh đạo tôn giáo, dịch bệnh COVID-19 sẽ không xâm nhập vào Indonesia. Ngay cả Tổng thống Indonesia (Joko Widodo) cũng gây hiểu lầm cho người dân, vào tháng 3 năm 2020, ông nói: “Chỉ cần dùng thuốc thảo dược, người dân Indonesia có thể kiểm soát dịch bệnh Covid-19” (Xem chương trình truyền thông Asing Soroti Jokowi Minum Jamu Untuk Tangkal Corona trên CNN Indonesia, ngày 16 tháng 3 năm 2020). Tóm lại, Chính phủ Indonesia đã dựa vào những ngôn luận và cơ sở thiếu khoa học để đối phó với dịch bệnh viêm phổi COVID-19. Biện pháp phòng chống dịch của Chính phủ Indonesia Vào tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố dịch viêm phổi COVID-19 là đại dịch khẩn cấp đe doạ sức khỏe cộng đồng quốc tế. Đáng lý ra thì từ thời điểm này, Chính phủ Indonesia nên thực hiện các biện pháp phòng chống dịch một cách có hệ thống, đồng thời tham khảo ý kiến ​​của giới chuyên gia y tế, đặc biệt là các nhà dịch tễ học và chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, để kiềm chế sự lây lan của vi-rút trong nước. Tuy nhiên, mặc dù đây là một vấn đề về y tế, nhưng Chính phủ lại làm ngơ với ý kiến của các chuyên gia y tế, đôi khi ý kiến ​​của chuyên gia thậm chí còn bị coi nhẹ, thỉnh thoảng cũng có tin tức về việc Chính phủ mâu thuẫn với ý kiến của các chuyên gia y tế. Kể từ tháng 4 năm 2020, Chính phủ Indonesia đã ra lệnh cho Lực lượng Vũ trang Quốc gia (Indonesian National Armed Forces TNI) và cảnh sát phong tỏa mọi người ở yên trong nhà của họ[1], hạn chế các hoạt động tôn giáo và tự do đi lại, cấm tụ tập và biểu tình. Những điều này có thể đã vi phạm nhân quyền, đặc biệt là các quyền dân sự và chính trị. Kể từ khi WHO tuyên bố dịch viêm phổi COVID-19 đã trở thành một đại dịch toàn cầu, Chính phủ Indonesia đã đưa ra các biện pháp kiểm soát, nhưng không triển khai mở rộng ra toàn quốc. Các chuyên gia y tế cộng đồng cho rằng các biện pháp phòng chống dịch của Jokowi quá chậm chạp, không thể xoa dịu lòng dân một cách hữu hiệu. (Xem chương trình Virus corona: Jokowi umumkan langkah pengendalian Covid-19, tapi tanpa komando nasional tại BBC News Indonesia, ngày 16 tháng 3 năm 2020). Chính phủ Indonesia cũng thích công bố các chính sách và từ vựng mới về phòng chống dịch bệnh hàng tháng, và những chính sách này không mấy hữu ích với việc khống chế sự lây lan của dịch bệnh, trước căn bệnh chết người này, Chính phủ Indonesia hoảng loạn từ trên xuống dưới và thiếu một chủ trương mang tính hệ thống.                  Vào tháng 12 năm 2020, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Xã hội Indonesia, Juliari Batubara đã nhận hối lộ trong dự án quyên góp nhu yếu phẩm xóa đói giảm nghèo nhằm hỗ trợ người dân trong đại dịch. [2] Người dân Indonesia đang phải vật lộn khổ sở với dịch bệnh Covid-19, thì các quan chức Chính phủ Indonesia lại để xảy ra một vụ bê bối khủng khiếp như vậy. Số ca nhiễm Covid-19 và số ca tử vong tiếp tục tăng cao khiến hoạt động chống dịch của Chính phủ Indonesia càng trở nên khó khăn hơn. Chính phủ nên bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân (cũng là một loại nhân quyền), ví dụ, đảm bảo rằng nhân viên y tế trên tiền tuyến của cuộc chiến chống lại dịch bệnh có đầy đủ thiết bị bảo hộ. Nhưng trước tình hình dịch bệnh Covid-19 đang hoành hành, Chính phủ Indonesia dường như chẳng giúp được gì, số ca nhiễm và tử vong đã không ngừng tăng mạnh kể từ giữa tháng 6 năm 2021. Ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 đối với người dân Indonesia Chính phủ Indonesia đã ra thông báo áp dụng “Chính sách giãn cách xã hội quy mô lớn” (PSBB) từ tháng 4 năm 2020, hy vọng sẽ phá vỡ chuỗi lây truyền bệnh Covid-19. Nhưng biện pháp này đã thất bại hoàn toàn, không đáp ứng được các mục tiêu chống dịch của WHO nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh và giảm số người tử vong. Do Chính phủ lưỡng lự giữa sức khỏe của người dân và phát triển kinh tế, vào tháng 7 năm 2021, dịch bệnh Covid-19 đã lan tràn một cách khủng khiếp ở Indonesia. Từ ngày 3 đến ngày 20 tháng 7 năm 2021, Chính phủ Indonesia đã khởi động Biện pháp Phòng ngừa Khẩn cấp (PPKM) [K2] đối với khu vực đảo Java và Bali, hy vọng ngăn chặn đại dịch Covid-19 và giảm số người tử vong. Đối với các quận và thành phố ở cấp hành chính thấp hơn Java và Bali, thì triển khai “Các biện pháp khẩn cấp hạn chế tổ chức hoạt động xã hội quy mô nhỏ” (PPKM Mikro Darurat) . Tuy nhiên, các biện pháp này không kiểm soát được dịch bệnh, số ca nhiễm bệnh và tử vong do mắc bệnh Covid-19 tiếp tục tăng lên. Vai trò của các tổ chức xã hội trong Đại dịch Covid-19 ở Indonesia Các tổ chức xã hội ở Indonesia hoạt động tích cực sau khi Indonesia cải cách và mở cửa (thời kỳ hậu chuyên chế), nhiều tổ chức trong số này đang tích cực quan tâm đến các vấn đề như nhân quyền, biến đổi khí hậu, y tế, cải cách tư pháp, chủ quyền lương thực, quyền đất đai và cải cách ruộng đất, nông dân và lao động. Các tổ chức xã hội ở Indonesia đã thu hút nhiều nhóm và cá nhân tham gia vào các hành động và sáng kiến của họ, chẳng hạn như bác sĩ, luật sư, chuyên gia nông nghiệp, v.v, giúp các tổ chức xã hội tiếp tục phát triển và trở nên đáng tin cậy hơn trong các lĩnh vực của họ. Các tổ chức xã hội của Indonesia về cơ bản đã thúc đẩy quá trình phát triển của thời kỳ hậu chuyên chế của Indonesia (sau năm 1998) theo hướng dân chủ và cởi mở hơn. Các tổ chức xã hội Indonesia cũng đang tập trung vào các hoạt động chống dịch của Chính phủ, chẳng hạn như Liên minh Công dân LaporCovid-19. Vào đầu tháng 3 năm 2020, bệnh Covid-19 bắt đầu hoành hành, và các cơ quan chính thức cũng đã lưu ý đến sự bùng phát dịch. Cùng thời điểm này, một nhóm người quan tâm đến các vấn đề nhân quyền và sức khỏe cộng đồng của dịch bệnh Covid-19 đã thành lập Liên minh Công dân LaporCovid-19. Liên minh Công dân LaporCovid-19 đã xây dựng một nền tảng thông báo tình hình dịch bệnh, là nơi người dân chia sẻ những thông tin về bệnh dịch mà họ đã phát hiện ra nhưng Chính phủ còn chưa biết tới.   Sử dụng sức mạnh của công chúng để ghi lại số lượng các ca nhiễm được xác nhận và thông báo các sự kiện liên quan đến dịch bệnh ở các khu vực lân cận, làm cho nền tảng này trở thành cầu nối và để lại dữ liệu cho dịch bệnh ở Indonesia. Với nền tảng LaporCovid-19, Chính phủ và người dân có thể nắm bắt được thông tin về sự phân bố  và mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh trong nước, Chính phủ cũng có thể sử dụng dữ liệu được thu thập bởi nền tảng LaporCovid-19 để tìm kiếm các chính sách phòng chống dịch và kế hoạch ứng phó. LaporCovid-19 được thành lập từ các tổ chức xã hội bao gồm: Quỹ Trợ giúp Pháp lý Indonesia (YLBHI) , Tạp chí Thời báo Indonesia (Tempo ), Dàn nhạc Hiệu ứng Nhà kính (Efek Rumah Kaca) , Tổ chức Minh bạch Quốc tế Indonesia, Quỹ Luật và Nhân quyền (Lokataru), Hakasasi.id, Liên minh U-Inspire Indonesia, Trường Luật STH Jentera , Truyền thông NarasiTV, Trung tâm Nghiên cứu Đô thị Rujak, Tổ chức Giám sát Tham nhũng Indonesia (ICW). Quỹ Trợ giúp Pháp lý Indonesia (YLBHI) là một tổ chức nhân quyền đã giám sát việc thực hiện các nghĩa vụ nhân quyền của Chính phủ Indonesia kể từ khi thành lập vào những năm 1970. Tạp chí Time Indonesia thuộc tập đoàn Tempo, tập trung vào các vấn đề như nhân quyền, môi trường và tham nhũng. Liên minh Xã hội được thành lập từ các tổ chức bao gồm LaporCovid-19, Cơ quan Giám sát Tham nhũng Indonesia, Quỹ Trợ giúp Pháp lý Indonesia, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội - Giáo dục và Thông tin (LP3ES) , Quỹ Luật và Nhân quyền, đã cho thấy chính sách chống dịch của Chính phủ Indonesia hỗn loạn như thế nào. Liên minh cho rằng kể từ khi dịch bùng phát vào đầu tháng 3 năm 2020, Chính phủ Indonesia đã hoạt động kém hiệu quả và không thể ngăn chặn được dịch bệnh. LaporCovid-19 đã chỉ trích các hoạt động chống dịch của Chính phủ là đầy sai lầm và không có hiệu quả trong việc hạn chế sự gia tăng số người tử vong. Dữ liệu của LaporCovid-19 cho thấy rằng nếu Chính phủ hành động cương quyết vào thời điểm đó, với các chính sách phòng ngừa và kiểm soát mạnh mẽ được áp dụng ngay từ khi bắt đầu bùng phát, tỷ lệ tử vong có thể được giảm thiểu ngay từ đầu. (Xem chuyên đề Kasus Meninggal Melonjak & RS Kolaps, Negara Gagal Tangani COVID? , Tirto.id, ngày 6 tháng 7 năm 2021, https://tirto.id/ght5). Nhưng ngay cả khi Chính phủ Indonesia chi 695,2 nghìn tỷ Rupiah (khoảng 1,4 nghìn tỷ Đài tệ) để chống lại dịch bệnh vào năm 2020, thì cuối cùng vẫn không có hiệu quả. (Xem báo La bàn Indonesia, ngày 20 tháng 12 năm 2020, “Kebijakan Pemerintah Menangani Covid-19 Sepanjang Học kỳ II năm 2020”).

2022-09-23

Giới thiệu đơn vị tổ chức: Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Đài Bắc Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Đài Bắc được thành lập vào năm 2001. Đây là bảo tàng nghệ thuật đầu tiên ở Đài Loan nhằm quảng bá nghệ thuật đương đại, khám phá chiều sâu văn hoá và xã hội của nghệ thuật thị giác đương đại thông qua các hoạt động và triển lãm đa dạng. Giới thiệu về tác giả: Chiêm Thoại Tự: Tiến sĩ, Viện Quản lý Nghệ thuật và Chính sách Văn hóa, Trường Đại học Nghệ thuật Quốc gia Đài Loan. Ông từng đảm nhận chức vụ Tổng thư ký Hiệp hội Nghệ thuật Thị giác Đài Loan, Giám đốc điều hành Trung tâm Nghệ thuật Kỹ thuật số Đài Bắc, và hiện là Phó trưởng nhóm nghiên cứu tại Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Đài Bắc. Lạc Lệ Chân: Chuyên về nghệ thuật đương đại, nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật phương tiện truyền thông mới, sáng tạo nghệ thuật và bình luận, giáo dục nghệ thuật, tiếp thị kỹ thuật số và nghiên cứu xu hướng. Hiện đang được Khoa Quan hệ Công chúng và Quảng cáo, Trường Đại học Thế Tân, mời về làm Giám đốc chuyên trách của Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Đài Bắc. Ngày nay, cuộc thảo luận về nghệ thuật đương đại không thể tồn tại một cách độc lập với xã hội, thông qua cảm nhận những suy nghĩ được truyền tải bởi sự sáng tạo nghệ thuật và những thông tin được truyền tải qua việc đọc, cộng đồng được tự do đối thoại và trao đổi nhiều hơn. Bảo tàng nghệ thuật như là một động lực để mọi người tham gia vào hoạt động xã hội. Mong rằng khi tham quan triển lãm, khán giả sẽ có thêm cảm xúc và suy ngẫm, mang những tư duy đó trở lại cuộc sống hàng ngày, tạo thành những hành động và thay đổi trong tương lai, đó là một nguồn năng lượng tiềm ẩn không thể xem nhẹ của nghệ thuật đương đại. Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Đài Bắc tích cực trong việc tạo ra không gian thảo luận về các vấn đề xã hội đương đại Chính vì niềm tin này, Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Đài Bắc (sau đây gọi là Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại) đã quan tâm đến nhiều vấn đề nhân quyền một cách có ý thức khi lập kế hoạch triển lãm trong những năm gần đây. Cụ thể vào năm 2017, Bộ Tư pháp đã giải thích Hiến pháp và tuyên bố rằng việc Luật Dân sự hiện hành không bảo đảm quyền tự do và quyền bình đẳng trong hôn nhân đồng giới là vi phạm Hiến pháp, yêu cầu cơ quan lập pháp hoàn thành việc sửa đổi các luật có liên quan hoặc ban hành luật đặc biệt trong vòng hai năm, để bảo vệ quyền hôn nhân  đồng giới, đưa Đài Loan trở thành quốc gia đầu tiên ở châu Á hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. Cùng lúc đó, Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại đã ra mắt dự án “Ánh sáng. quang hợp - Triển lãm về các đề tài đồng giới trong nghệ thuật đương đại châu Á” do nhà giám  tuyển triển lãm Hồ Triều Thánh phụ trách. Đây là triển lãm liên quan đến chủ đề LGBT quy mô lớn đầu tiên trong một bảo tàng nghệ thuật chính thức ở Đài Loan, và tầm quan trọng của nó là hiển nhiên. Tại quảng trường trước bảo tàng đương đại, là tác phẩm “Cầu vồng trong bóng đêm” được sáng tác bởi nghệ sĩ Trang Chí Duy, thông qua khắc hoạ chân dung, tác giả đã phơi bày những bí mật thầm kín cá nhân, tiếng khóc thầm lặng và những bất công ẩn giấu trong góc khuất, cùng với nhiều lời chúc phúc và ca ngợi tồn tại song song, đồng thời bày tỏ tấm lòng của mình với công chúng, chiếc kệ khổng lồ như chứa đựng tiếng nói ồn ào của dư luận mà vẫn tỏa sáng rực rỡ như ánh cầu vồng. Triển lãm này tiếp tục lưu diễn đến Bangkok, Thái Lan và Hồng Kông, tiếp tục phát huy sức mạnh của nghệ thuật đương đại trong việc góp tiếng nói thảo luận về các vấn đề xã hội.

2022-05-23

Giới thiệu về tác giả: Ông ANDI ACHDIAN Andi Achdian là trợ lý giáo sư của ngành Xã Hội Học, Khoa Học Xã Hội và Chính Trị tại Học viện Đại học Quốc gia Indonesia. Ông cũng là người phụ trách của Quỹ Omah Munir. Giới thiệu về Viện Bảo Tàng Nhân Quyền MUNIR Viện Bảo Tàng Nhân Quyền MUNIR ban đầu có tên gọi là Bảo Tàng Nhân Quyền Nhà Munir, được thành lập vào năm 2013 bởi Quỹ Nhân Quyền Nhà Munir (Omah Munir) ở Batu, phía đông Java, và đây cũng là nơi Luật sư Munir sinh ra và lớn lên. Việc thành lập bảo tàng nhằm thúc đẩy giáo dục nhân quyền cho người dân Indonesia, đặc biệt là cho giới trẻ, nhằm bồi dưỡng những công dân yêu hòa bình, tôn trọng nhân quyền và đề cao các nguyên tắc khoan dung và bình đẳng.  LỜI MỞ ĐẦU Vào tháng 5 năm 1998, chế độ Trật Tự Mới(New Order)của Suharto tan rã. Đại tướng Suharto thoái vị sau hơn 30 năm cầm quyền và được thay thế bởi Phó Tổng thống B.J. Habibie, với lời cam kết dẫn dắt tình hình chính trị Indonesia phát triển theo hướng dân chủ. Khi chế độ Trật Tự Mới tan rã, các đảng chính trị Indonesia mọc lên như nấm, kỷ nguyên mới của chế độ chính trị đa đảng này đã trở thành nền tảng của quá trình dân chủ hóa ở Indonesia ngày nay. Tuy nhiên, nền tảng của chế độ cũ vẫn chưa hoàn toàn biến mất, mà vẫn còn tồn tại một số thành phần tàn dư ngoan cố trong nền chính trị Indonesia đương thời.  Một trong số đó là khái niệm về lịch sử Indonesia của thời hiện đại, nhấn mạnh vai trò của quân đội-là lực lượng chủ chốt trong việc giải cứu Indonesia khỏi sự đe doạ của chủ nghĩa cộng sản vào năm 1965. Quân đội đã thành công trong việc nắm toàn quyền kiểm soát cho đến những năm 1970, những bài tường thuật lịch sử này sau này được lan truyền rộng rãi hơn. Nó không chỉ nói về việc quân đội đàn áp thành công phong trào cộng sản, mà còn nhấn mạnh sự đóng góp chính của quân đội Indonesia trong việc chống lại Hà Lan giành được độc lập.  Vai trò của những nhà phong trào chống thực dân như Sukarno, Hatta, Sjahrir dần mờ nhạt, thay vào đó là vai trò của quân đội và những chiến công anh hùng của họ trong cuộc chiến giành độc lập. Trong nghiên cứu của Katherine McGregor về các câu chuyện lịch sử, còn được gọi là “lịch sử của quân phục” trong thế kỷ 20 của Indonesia, đã nhấn mạnh vai trò của quân đội trong kỷ nguyên Trật tự Mới, chính thức thiết lập lịch sử của Indonesia. Chúng tôi cũng có nguồn tin là ngoài các phong trào chính trị tiến bộ và tự do, các chính quyền cai trị còn dùng viện bảo tàng để tô vẽ vào lịch sử các tư tưởng giả dối về thế lực phản động của bọn thống trị độc tài. Đứng sau hậu thuẫn là học giả và nhà sử học quân sự Nugroho Notosusanto, người mà sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo Dục trong thời đại Trật Tự Mới. Dưới sự chỉ huy của ông, các thành phố lớn ở Indonesia nhằm ủng hộ cho những câu chuyện lịch sử này, đã cho xây dựng các bảo tàng và tượng đài nhắc nhở người dân không được quên nghĩa vụ và vai trò quan trọng của quân đội. PHONG TRÀO CHỐNG LẠI SỰ LÃNG QUÊN Dưới chế độ Trật Tự Mới, các bảo tàng không còn được định nghĩa theo nghĩa truyền thống là nơi lưu giữ "các đồ vật có giá trị nghệ thuật, văn hóa, lịch sử hoặc khoa học" (Từ điển Oxford), mà trở thành công cụ của quyền lực, làm cho vai trò lịch sử của chính quyền danh chính ngôn thuận. Ngay sau cuộc cải cách năm 1998 thì có người bắt đầu cố gắng bác bỏ nhận định này. Vào đầu những năm 2000, bài viết được các sử gia độc lập của Indonesia ủng hộ, đã trở thành tâm điểm trong các cuộc tranh luận. Asvi Warman Adam là một trong những người hàng đầu ủng hộ việc “chấn chỉnh lịch sử” (Adam, 2004). Để nhấn mạnh vai trò của quân đội, hàng trăm nghìn đảng viên Đảng Cộng Sản và những người được cho là đảng viên Đảng Cộng Sản đã bị giết trên toàn quốc Indonesia, bản tường thuật này cũng được trình bày cùng với bản tường thuật chính thức về các sự kiện của năm 1965. Tuy nhiên, làn sóng mới này vẫn chỉ là diễn giải học thuật, chỉ được lưu hành trong giới hạn phạm vi nhỏ. Diễn ngôn chính thức của Trật Tự Mới vẫn là phiên bản chính thống, với sự hỗ trợ của các văn bản và phim lịch sử từ các trường tiểu học và trung học cơ sở, đặc biệt là những bảo tàng và tượng đài của Trật Tự Mới vẫn được bảo tồn cho đến ngày nay.  Ngoài ra, những bài viết này cũng chịu đả kích từ các các nhà hoạt động nhân quyền và các phong trào ủng hộ dân chủ, họ đã cố gắng củng cố ký ức cho công chúng đừng quên những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị ở Indonesia vào năm 1988. Ngày 10 tháng 12 năm 2014, các nhà hoạt động xã hội và học giả từ Đại học Trisakti (Trisakti University), cùng với Lễ kỷ niệm Nhân Quyền Thế Giới, đã khánh thành đài tưởng niệm vụ thảm sát vào ngày 12 tháng 5 năm 1998. Đài tưởng niệm này được làm bằng sứ đen và cao 3 mét, tưởng niệm bốn sinh viên đã bị lực lượng an ninh bắn chết trong cuộc biểu tình của sinh viên trong khuôn viên trường.  Đồng thời, Ủy Ban Nhân Dân Quốc Gia về bạo lực xâm hại phụ nữ (Komnas Perempuan) đã khắc ghi văn tự trên tấm bia về vụ thảm sát tháng 5 năm 1998, để tưởng nhớ những phụ nữ hoa kiều bị bạo lực và xâm hại tình dục. Các tình nguyện viên đã đưa câu chuyện của những người phụ nữ hoa kiều bị tấn công tình dục lên các phương tiện truyền thông, gây ra tranh luận vào thời kỳ đầu trong cuộc cải cách. Chính phủ đã thành lập Nhóm Tìm Kiếm Sự Thật (TPGF) để điều tra các chứng cứ liên quan này đến vấn đề này. Tuy nhiên, nhóm đã không tìm thấy bất kỳ "chứng cứ" nào để chứng minh cho vụ án tấn công tình dục hàng loạt, và chính phủ chính thức phủ nhận chưa từng xảy ra sự việc này. Trước việc làm của chính phủ, Ita Martadinata-một tình nguyện viên trẻ tuổi, là công dân Hoa kiều cũng là nạn nhân của vụ việc, dự định đến Quốc hội Mỹ để làm chứng. Tuy nhiên, trước khi lên đường đến Hoa Kỳ, cô được phát hiện đã bị sát hại và câu chuyện tấn công tình dục hàng loạt của người phụ nữ hoa kiểu từ đó cũng bị chôn vùi lãng quên. Văn tự được khắc trên tấm bia của vụ thảm sát vào tháng 5 năm 1998 là minh chứng nhắc nhở người dân về giai đoạn lịch sự này. Đồng thời, tại Aceh-nơi phía tây nhất của Indonesia, nhiều tổ chức phi chính phủ đã thực hiện một bước đi xa hơn, đó là vào năm 2011 thành lập Bảo tàng Nhân quyền Aceh. Viện bảo tàng quy mô nhỏ. Các tổ chức này tại khu Tikar Pandan (Tikar Pandan Community) dựng lên cái bảng thẳng đứng tại sân của văn phòng, nội dung mô tả vụ bắn chết người dân biểu tình, những người bị mất tích trong cuộc xung đột của Simpang KKA, và Nhà Geudong (Rumoh Geudong), đây là nơi những người lính tra tấn những người bị nghi ngờ đồng lòng với phong trào Aceh Tự Do. Đây là một bảo tàng giản dị mộc mạc, nhưng mang một sứ mệnh lớn lao, như đã được nêu trong tuyên ngôn của nó : Chúng tôi tin rằng tia sáng mong manh yếu ớt cũng có thể soi sáng ở một nơi tối tăm. Vì vậy, chúng tôi đã xây dựng một nơi gìn giữ ký ức, như thế thì chúng ta và những người đàn ông và phụ nữ của Aceh, những người đang sống và những người đã chết, những người bị tấn công tình dục và bị tàn sát, những người đã bị tra tấn và bị tiêu diệt, có thể gào thét lên tiếng nói của mình mà không màng đến sự sống và cái chết: ĐỪNG PHẠM PHẢI NHỮNG SAI LẦM TƯƠNG TỰ NHƯ THẾ NỮA !Aceh bek le lagee njan! ACEH KHÔNG ĐƯỢC MẮC PHẢI NHỮNG SAI LẦM TƯƠNG TỰ NHƯ THẾ NỮA! Tóm lại, những cải cách chính trị của Indonesia đã mở ra cánh cửa cho các nhà hoạt động nhân quyền và các phong trào ủng hộ dân chủ ở Indonesia, ngoài tuyên bố chính thức của chính phủ đã thiết lập một sự tưởng thuật mới về lịch sử. Với khẩu hiệu “Chống lại sự lãng quên”, họ hưởng ứng văn hóa không trừng phạt của Indonesia, cho phép những kẻ vi phạm nhân quyền trong quá khứ không bị trừng phạt. Thông qua các viện bảo tàng và đài tưởng niệm phát động phong trào chống lại sự lãng quên, cuối cùng đã biến thành chiến dịch chống lại sự liên quan của chính phủ đối với những tội ác này.  Nhà Munir(Omah Munir) Nói cách khác, việc viện bảo tàng làm như thế nào để trở thành minh chứng cho chủ nhà của các phong trào xã hội, đó là Bảo tàng Nhân quyền Munir đang được xây dựng ở Thành phố Batu, Malang, phía đông Java. Tôi sẽ mô tả ngắn gọn quan điểm của mình với tư cách là một thành viên của Quỹ Nhà Munir.  Bắt đầu từ câu chuyện vi phạm nghiêm trọng nhân quyền ở Indonesia, tương tự như những gì luật sư về nhân quyền nổi tiếng người Indonesia Munir Said Talib (1965-2004) đã gặp phải. Vào ngày 7 tháng 9 năm 2004, ông đã bị giết khi đang trên đường đi học lớp nâng cao ở Hà Lan. Bên cạnh những cải cách đã mở đầu bước chuyển mình cho quá trình dân chủ hóa ở Indonesia, cái chết của Munir là một tiếng hồi chuông cảnh tỉnh cho nhiều người Indonesia rằng di sản của chế độ cũ vẫn còn ăn sâu bén rễ vào đời sống của người dân đương thời. Việc xét xử vụ án của ông chỉ có thể đưa những người trực tiếp ra tay sát hại ông ra trừng trị theo luật pháp, nhưng những người tình báo và quân đội cấp cao chủ chốt vẫn còn ung dung ngoài pháp luật. Trong vụ sát hại Munir, một lần nữa hiện tượng văn hoá có tội mà không bị trừng phạt lại được khôi phục.  Vào năm 2013, khi tôi vừa thành lập một bảo tàng cảnh sát ở Indonesia, bà vợ goá phụ Suciwati của ông Munir đã liên lạc với tôi. Bà ấy nói với tôi rằng bà muốn thành lập một viện bảo tàng vì chồng của bà và cuộc đấu tranh giành nhân quyền ở Indonesia. Tôi quen khá thân với Munir, ông cũng là đồng nghiệp cũ của tôi, ông ấy là người đã dẫn dắt tôi khi tôi làm việc trong cơ quan trợ giúp pháp lý ở Indonesia. Tôi nghĩ đề xuất của bà Suciwati là một ý tưởng tuyệt vời, nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo tàng được xem như một chủ nhà để “tham gia vào cuộc đấu tranh”, ví dụ như Bảo tàng Quốc Gia của Người Mỹ Da Đỏ được thành lập trong phong trào dân quyền Hoa Kỳ trong những năm 1980,(National Museum of the American Indian)(Kyle Message,năm 2013).  Câu hỏi được đặt ra là nguồn kinh phí cho dự án sẽ lấy từ đâu? Việc xây dựng bảo tàng rất tốn kém, nó đòi hỏi sự cố vấn của các kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng và nhà sử học, điều này đã trở thành một thách thức nặng nề. Bà Suciwati đã giải quyết vấn đề khó khăn đầu tiên bằng cách bà đã hiến tặng ngôi nhà của bà và cố luật sư Munir ở Batu, phía đông Java để làm viện bảo tàng. Đó là một ngôi nhà có diện tích chưa đầy 400m2, bao gồm cả sân vườn và các phòng ốc. Tuy nhỏ nhưng ngôi nhà này có giá trị lịch sử to lớn và là một nơi thích hợp để dùng làm phát triển dự án.  Đến giữa năm 2013, bà Suciwati muốn thu hút được nhiều sự ủng hộ hơn nên có ý tưởng thành lập một bảo tàng để kể về cuộc đời của ông Munir và lịch sử đấu tranh cho nhân quyền của Indonesia, và đã gây được tiếng vang rộng rãi. Các nhà phong trào xã hội trẻ, nghệ sĩ và các nhân vật nổi tiếng trên truyền thông đã sôi nổi hưởng ứng, bao gồm các nhà chính trị và quan chức chính phủ có thiện cảm với ông Munir, chẳng hạn như Lukman Hakim Syaifuddin, người mà sau này trở thành Bộ trưởng Tôn giáo, và nhà điều hành mạng truyền thông Dahlan Iskan, người mà sau này trở thành Bộ trưởng Doanh nghiệp Quốc gia. Sự phát triển của viện bảo tàng này cuối cùng đã mở rộng mạng lưới các phong trào ủng hộ dân chủ ở Indonesia.  Quá trình xây dựng toà bảo tàng này cuối cùng đã mở ra một con đường mới để thúc đẩy nhân quyền ở Indonesia. Những người trước đây cảm thấy rằng các vấn đề về nhân quyền và dân chủ hóa là một điều xa vời, lại đột nhiên đầu tư thời gian, tinh thần và tiền bạc của họ vào dự án chung. Điều này cũng phản ánh suy nghĩ của nhà xã hội học Sidney Tarrow (2011) về hành động của tập thể theo tính mô-đun hoá, xã hội dân chủ thông qua liên hợp hành đồng đem những phần của quá khứ đã bị chia cắt gắn kết lại vào nhau. Vào cuối năm đó, kiến trúc xây dựng viện bảo tàng đã hoàn thành và vào ngày 8 tháng 12 năm 2013, chính thức dùng tên gọi Nhà Munir (Omah Munir) mở cửa cho công chúng vào tham quan. Đây vốn dĩ chỉ là một ước mơ, và bây giờ cuối cùng nó đã trở thành hiện thực. Sau đó, để điều hành và quản lý bảo tàng, đã thành lập Quỹ Nhà Munir, do những người khởi xướng thành lập bảo tàng gộp lại hợp tác với nhau. Dự án của Nhà Munir trực tiếp thách thức chính phủ về những câu chuyện lịch sử được lưu truyền trong nhiều thập kỷ mà họ đã che giấu. Bảo tàng cung cấp một trải nghiệm trái ngược với những câu chuyện lịch sử vốn có. Khi du khách đến tham quan bảo tàng, nghênh tiếp họ là bức tượng bán thân của Luật sư Munir, đây là món quà của một nhà điêu khắc trong quá trình xây dựng bảo tàng hiến tặng. Sau đó, khách tham quan được giới thiệu hàng loạt các câu chuyện lịch sử, những câu chuyện lịch sử này cho thấy sau khi chế độ Trật Tự Mới được thiết lập không lâu, phong trào nhân quyền ở Indonesia thông qua việc thành lập YPHAM (Tổ Chức Bảo Vệ Nhân Quyền) và YLBHI (Tổ Chức Trợ Giúp Pháp Lý Indonesia) đã ra đời. YPHAM là một tổ chức nhiệt huyết bảo vệ các tù nhân chính trị cộng sản và thúc đẩy các phong trào đấu tranh vì công lý, sự thật này thách thức những lý giải của chính phủ về thành công của quân đội trong việc đàn áp phong trào cộng sản.  Bảo tàng cũng trưng ra câu chuyện về Marsinah, một nữ lao động đã bị giết trong các cuộc thẩm vấn của quân đội vì tham gia dẫn đầu một cuộc đình công. Câu chuyện của Marsinah được phơi bày tại Nhà Munir, cũng như nhắc nhở du khách rằng những thành tựu phát triển của Indonesia được đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt và xương máu của những người lao động. Các câu chuyện khác càng nói rõ những sự vi phạm nhân quyền trầm trọng ở Indonesia, chẳng hạn các vụ bắt cóc mất tích và các vụ thảm sát chính trị ở Papua và Đông Timor (nay là các quốc gia độc lập). Bảo tàng tất nhiên cũng chứa đựng cuộc sống đời thường của ông Munir và những trãi nghiệm của ông ấy với tư cách là một nhà bảo vệ nhân quyền, cũng như sự kiện vụ giết hại ông. Kể từ khi chính thức mở cửa vào ngày 8 tháng 12 năm 2013, Nhà Munir đã chào đón du khách từ mọi thành phần với các độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, sinh viên đại học và học sinh là nhóm khách đến tham quan đông nhất. Họ coi việc tham quan các viện bảo tàng là một phần của chương trình giáo dục về nhân quyền của các cấp trường học và trường đại học. Sau năm năm nhìn lại, điều thú vị là viện bảo tàng có thể trở thành trung gian có ích trong việc thúc đẩy các tổ chức nhân quyền, đưa các tiêu chuẩn quan trọng của nhân quyền phổ biến vào cuộc sống của người Indonesia.  BẢO TÀNG NHÂN QUYỀN MUNIR Trên thực tế, với một phạm vi hạn chế nhỏ như bảo tàng Nhà Munir rất khó tìm ra giải pháp thay thế cho các diễn giải về sự bảo thủ của câu chuyện lịch sử. Năm 2018, uỷ ban quản lý Nhà Munir bắt đầu nghĩ về tầm quan trọng của việc phát triển quan hệ hợp tác với chính phủ, cộng tác trong lĩnh vực xây dựng, cơ sở hạ tầng, lập kế hoạch và hệ thống hỗ trợ để tăng cường và tạo điều kiện phát triển của Nhà Munir thành một bảo tàng nhân quyền lớn hơn. Bước này khá thành công, và chính phủ hứa sẽ tài trợ cho việc xây dựng một viện bảo tàng, kinh phí được cung cấp bởi chính quyền tỉnh Đông Java, và đất đai là do chính quyền thành phố Batu cung cấp.  Ngoài ra, hội đồng quản trị đã trình bày chi tiết về sự hợp tác rộng rãi hơn với các thành viên khác của cộng đồng xã hội, với ba hoạt động chính trong phương diện này: Đầu tiên, hợp tác của hiệp hội kiến trúc sư Indonesia (Indonesian Architects Association,AAI) tổ chức một cuộc thi thiết kế bảo tàng, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của bảo tàng nhân quyền. Kiến trúc sư Achmad Deni Tardiyana (còn được gọi là Apep) nổi bật với thiết kế độc đáo và lôi cuốn, hòa nhập và thân thiện với môi trường. Thứ hai, Quỹ Nhà Munir cũng đã hợp tác với Viện Nghệ thuật Jakarta để tổ chức một cuộc thi sáng tác nghệ thuật được trưng bày trong bảo tàng. Thứ ba, Nhà Munir cũng đã sắp xếp các cuộc họp thương lượng với các nhà phong trào bảo vệ môi trường, các nhà báo, người dân bản địa, người khuyết tật và các nhà phong trào bảo vệ quyền lợi phụ nữ để thảo luận nghiên cứu những câu chuyện và chủ đề có thể tường thuật trong bảo tàng. Trọng điểm sau cuộc họp là đưa ra một chủ đề chính trong sự phát triển của quản lý bảo tàng.  Tầng trệt được đặc biệt thiết kế dành cho trẻ em, để trẻ em có thể nhận biết được những giá trị quan trọng của cuộc sống công đồng, như lòng khoan dung, tự do và bình đẳng. Tầng thứ hai trưng bày lịch sử nhân quyền ở Indonesia, bao gồm các sự kiện vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, môi trường, người dân bản địa, phụ nữ và tự do báo chí v..v..do các nhóm cộng đồng xã hội Indonesia nêu ra. Tầng cuối cùng là nói về cuộc đời của luật sư Munir và công việc mà ông đã quảng bá, ví dụ trưng bày sự kiện về những người mất tích ở gian cuối cùng trên tầng ba, để khách tham quan nghĩ lại về các vấn đề nhân quyền ở Indonesia.  Phải thừa nhận rằng hợp tác cùng với chính phủ cũng đặt ra câu hỏi về tính độc lập của việc giám tuyển, đặc biệt là về các vấn đề nhân quyền. Liệu bảo tàng nhân quyền trong tương lai có thể dùng thái độ chí công vô tư để đối mặt với bạo lực nhân quyền nghiêm trọng trong lịch sử Indonesia hay không?  Nhưng trong quá trình này, thực sự có một số chấn chỉnh và thay đổi. Đầu tiên, tên của viện bảo tàng được đổi thành Bảo tàng Nhân Quyền Munir. Nhưng điều này không có nghĩa là bảo tàng thuận ý với quan điểm của chính phủ, không chỉ là chủ đề cụ thể về cuộc đời của những người bảo vệ nhân quyền được trưng bày trong các viện bảo tàng trước kia, mà bảo tàng còn hy vọng sẽ nắm bắt được các vấn đề nhân quyền rộng lớn hơn ở Indonesia. Về mặt độc lập giám tuyển, may mắn là cơ cấu chính trị ở Indonesia vẫn cởi mở cho sự độc lập này.  Tương lai cũng có thể xảy ra điều tội tệ hơn nữa nhưng có một điều chắc chắn là thông qua lần trải nghiệm này, các bảo tàng và di tích lịch sử đã trở thành những địa điểm cho các phong trào xã hội quan trọng như phong trào dân chủ và các nhà hoạt động nhân quyền trong giai đoạn cải cách, thời gian sẽ trả lời liệu đây có phải là một cách hiệu quả để truyền bá tầm quan trọng của các giá trị nhân quyền trong thế hệ trẻ Indonesia hay không.