• Image_Hope
Thông qua các hành động của Viện Bảo tàng, thúc đẩy sự hiểu biết và tôn trọng nhân quyền ở Châu Á.
:::

Sự kiện

Tin mới
2022-05-23

Giới thiệu về tác giả:Patporn (Aor) Phoothong Patporn (Aor) Phoothong làm việc trong nhà bảo tàng và kho tài liệu nghiên cứu về hòa bình, bà cống hiến hết mình nghiên cứu về giáo dục hòa bình. Gần đây, bà đã tiến hành một nghiên cứu khả thi cho việc thành lập một bảo tàng hoà bình kết nối với vùng sâu phía nam của Thái Lan. Bà cũng là người đồng sáng lập Dự án Bảo tàng Đại thảm sát (Massacre Museum) vào ngày 6 tháng 10 năm 1976 và Dự án Bảo tàng và kho tài liệu phía Nam, với sự cam kết dùng viện bảo tàng và kho tài liệu như một công cụ để chuyển đổi những sự xung đột và xây dựng hòa bình. Từ năm 2011, Patporn (Aor) đã làm việc trong các viện bảo tàng và kho tài liệu nhằm thúc đẩy sự hòa bình và công lý, và thông qua chương trình Thành phần Trí thức Cộng đồng Châu Á của Quỹ Nippon Foundation Grants Nhật Bản, để tiến hành “Hướng tới hòa bình và thoả hiệp: Một nghiên cứu điển hình về Bảo tàng hòa bình của Nhật Bản và Philippines” GIỚI THIỆU VỀ DỰ ÁN BẢO TÀNG NGÀY 6 THÁNG 10 Vào tháng 7 năm 2019, dự án bảo tàng này đã được thành lập bởi một nhóm bốn người, các thành viên bao gồm: một biên tập viên của nhà xuất bản Tiến Bộ, một nhà quay phim kiêm đạo diễn, một nhà kiến trúc sư và một nhà nghiên cứu. Dự án bảo tàng này nhằm mục đích tạo ra một không gian chính trị - xã hội, cho phép mọi người từ các nơi khác nhau đến để giao tiếp và thảo luận về bạo lực chính trị của Thái Lan trong quá khứ và hiện tại. Mong muốn của dự án này là thông qua các cuộc triển lãm, hội thảo và tọa đàm sẽ cùng với khán giả và xã hội Thái Lan giao lưu các thông tin và chứng cứ tư liệu, có thể đưa ra những câu hỏi, những lời nhận xét và cuối cùng là xây dựng một nền văn hóa không có sự trừng phạt. Thái Lan là một đất nước đầy lời đồn thổi không căn cứ, rất khó nắm bắt được sự thật, trong khi đó tin đồn lại thường gần với sự thật, làm người ta ít nhiều cũng tưởng tượng được những gì đã xảy ra. Khi tôi có cơ hội thực hiện một dự án bảo tàng để truyền bá lại những bạo lực chính trị trong quá khứ, tôi đã nghĩ làm thế nào để cuộc triển lãm có thể trình bày ra hết sự thật, và làm sao trò chuyện cùng với công chúng để họ có thể đưa ra những câu hỏi, những sự thảo luận và cuối cùng khám phá ra những gì đang xảy ra. Vào ngày 6 tháng 10 năm 1976, những sinh viên và thường dân mà phản đối sự trở về nước của những nhà độc tài trước đây, đều bị chính phủ Thái Lan tàn sát tại trường Đại học Thammasat. Theo số liệu chính thức, trong đó có 46 người thiệt mạng, 167 người bị thương và hơn 3.000 sinh viên bị bắt. Sau đó, vào năm 1978 , một luật ân xá đã được thông qua và tất cả những người có liên quan đã được thả tự do, đặc biệt là những thủ phạm : cảnh sát, lực lượng tuần tra biên giới, lực lượng bán quân sự và các nhóm cực hữu. Vào tháng 7 năm 2019, 43 năm sau vụ kiện đại thảm sát Massacre, chúng tôi đã khởi động Dự án Bảo tàng của ngày 6 tháng 10 xây dựng một nền văn hóa không có sự trừng phạt (culture of impunity), sử dụng các đồ vật liên quan đến bạo lực chính trị trong quá khứ và hiện tại để tạo một không gian học tập chính trị xã hội. Thông qua truyền thông, mặc dù đó là một cuộc triển lãm, hội thảo, phim ảnh hay các hình thức khác, thách thức bộ máy tư pháp không minh bạch và những văn hoá cổ hủ của Thái Lan về văn hoá có tội mà không bị trừng phạt, đồng thời khuyến khích công chúng đưa ra những sự chất vấn, mạnh dạn lên tiếng nói và đưa ra những sự phê bình. Đó là mục tiêu mà dự án bảo tàng của chúng tôi hướng đến. Tôi đã mất hơn 20 năm để tìm ra lý do tại sao chúng ta không thể thảo luận hoặc tìm hiểu sâu xa hơn về sự kiện này. Thái Lan lâu nay được cai trị bởi một chính phủ quân sự, mà chính phủ quân sự này luôn ưu tiên an ninh quốc gia là hàng đầu. Thông qua một nền văn hóa có tội không bị trừng phạt này, cùng với sự lạm dụng chức quyền của cơ quan hành chính tư pháp, chính phủ Thái Lan kiểm soát trí nhớ của các công dân của mình. Bạo lực chính trị trong quá khứ đã trở thành chủ đề nhạy cảm hoặc cấm kỵ, có những người tin rằng chỉ khi quên đi quá khứ mới có thể tiến lên phía trước. Đây đều là những thách thức khi chúng tôi tưởng nhớ và đàm đạo về những sự kiện trong quá khứ.  Tuy nhiên, cuộc đảo chính gần đây nhất vào năm 2014 đã làm thay đổi cách nhìn của hầu hết người Thái Lan về quân đội. Người Thái Lan, đặc biệt là thế hệ trẻ, đã bắt đầu biết đặt câu hỏi về bạo lực chính trị trong quá khứ và trách nhiệm của chính phủ, trong số các chủ đề được công khai thảo luận có đề cập đến có vụ thảm sát ngày 6 tháng 10 năm 1976.  Triển lãm đầu tiên của chúng tôi “Prajak / Payan” (Nhân chứng tận mắt chứng kiến) được trưng bày từ ngày 5 tháng 10 đến ngày 6 tháng 10 năm 2019. Chỉ có ba món đồ được trưng bày: Một chiếc quần jean bị lột ra từ xác của một nam sinh bị bắn chết vào ngày 6 tháng 10 năm 1976, một chiếc kèn có lỗ đạn, còn có một cánh cửa màu đỏ mà hai thi thể đã bị treo ở cửa này vào ngày 24 tháng 9 năm 1976. Chúng tôi trưng bày các món đồ này với một chút giải thích ngắn gọn, vì đây đều là những món đồ chân thật nhất để chứng minh về sự bao lực. Một khi bước vào khu triển lãm, ba món đồ này như đang đối thoại trực tiếp với khán giả, đồ vật cũng có thể tự nói lên sự thật, trình bày các sự kiện về chính họ với khán giả.  Tôi vẫn còn nhớ khi tôi vào bên trong phòng trưng bày, nhìn đám đông đi lại xung quanh khu trưng bày, tôi tự nghĩ: “Tại sao lại có nhiều người đến xem ba món đồ này như vậy, có phải vì họ chưa bao giờ từng nhìn thấy chúng không? Có phải vì họ muốn biết chân tướng của sự thật không? Có phải vì họ muốn xác định xem sự kiện ngày 6/10/1976 có từng xảy ra hay không? Hay là vì họ muốn gặp những người như chúng tôi và những người khác nữa, có cùng suy nghĩ và cùng những vấn đề giống họ?” Cuộc triển lãm thứ hai của chúng tôi “Kwean” (Treo lở lửng) được trưng bày từ ngày 1 đến ngày 10 tháng 10 năm 2020, lần này chúng tôi đã sử dụng công nghệ tăng cường thực tế AR để giao tiếp với khán giả. Chúng tôi tập trung vào sáng ngày 06 tháng 10 năm 1976, khi đó ít nhất có 5 người đã bị treo cổ lơ lửng trên cây Sanam Luang, những cây này được trồng xung quanh Quảng trường hành Lễ Hoàng gia. Triển lãm được trưng bày tại địa điểm mà lúc trước đã xảy ra vụ đại thảm sát, thông qua công nghệ AR với những bức ảnh chụp lại các sự việc, khán giả có thể nhìn thấy các xác chết bị treo ngược hoặc bị bắn.  Khi chính phủ Thái Lan muốn người dân của mình quên đi những gì chính phủ đã làm và không muốn chịu trách nhiệm về những vụ giết người, một trong những cách đơn giản thách thức họ là sử dụng bằng chứng và đồ vật của các sự kiện để tái hiện lại những gì họ đã làm cho công chúng xem. Cuộc triển lãm của chúng tôi, được diễn ra ngay trên địa điểm ban đầu của vụ thảm sát, trực tiếp chỉ thẳng vào thủ phạm, danh tính của các nạn nhân, quy mô của bạo lực và nơi đã diễn ra những tội ác của nhà nước. Những khán giả của cuộc triển lãm này là một nhân chứng cho những bạo lực trong quá khứ.  Tôi nhận thấy rằng khán giả, đặc biệt là thanh thiếu niên, biết rất rõ về vụ thảm sát ngày 6 tháng 10 năm 1976, kiến thức của họ có được từ kho lưu trữ trực tuyến “Kí sự ngày 6 tháng 10”, mạng truyền thông và các ấn phẩm. Họ đến với triển lãm để được hiểu sâu hơn và để giao lưu với các nhân viên và những người tham quan khác. Tôi cũng thấy rằng mặc dù bối cảnh chính trị - xã hội của Thái Lan đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát trí nhớ và quyền tự do ngôn luận của công chúng, nhưng bối cảnh chính trị - xã hội hiện nay cũng thúc đẩy công chúng đi tìm ra sự thật. Từ góc độ này, tôi thấy rằng các viện bảo tàng có thể thúc đẩy một nền văn hóa hòa bình, ngăn chặn những hành động tàn bạo trong tương lai.  Dự án bảo tàng sự kiện ngày 6 tháng 10 vẫn đang được tiến hành, trước khi một bảo tàng thực thể chính thức được thành lập, chúng ta vẫn còn một chặng đường dài phía trước phải đi. Trong quá tình này, dự án này vẫn có thể thực hiện các tính năng tương tự như một bảo tàng, chẳng hạn như thu thập thêm hiện vật, tổ chức triển lãm, hội thảo, hội tọa đàm. Tôi tin rằng chúng ta sẽ tiếp tục kiên trì : (1) Đưa ra câu hỏi : những gì chúng ta biết và những gì chúng ta không biết, dữ liệu, bằng chứng và thông tin ở đâu, ai là người tham gia vào sự kiện, và các bên liên quan là ai? (2) Thu thập thông tin, lời khai, ký ức và dữ liệu từ nhiều nhóm khác nhau: thủ phạm, nạn nhân, những người chứng kiến và những người khác. (3) Để cho thông tin, lời khai, ký ức và tài liệu có thể tương tác với khán giả. (4) Vì công lý, nên xây dựng và củng cố bảo tàng và văn hoá lưu trữ hồ sơ tài liệu. 

2022-05-23

Ông Thiết Ngộ Mông (Thet Oo Maung - Nhà sản xuất , người quay phim ) Thiết Ngộ Mông (còn được gọi là Stephen Minus) là một người tự học mà trở thành họa sĩ, nhiếp ảnh gia và nhà quay phim, tràn đầy đam mê về chủ nghĩa nhân đạo. Ông ấy dùng kỹ năng chụp ảnh của mình để lên tiếng bênh vực những người đã bị phỉ báng, bị lãng quên hoặc bị bịt miệng. Tác phẩm của ông nói về các chủ đề nội chiến, bom mìn, người tàn tật, giáo dục trẻ em, chăm sóc sức khỏe trẻ em, đào tạo cho nữ giới, bình đẳng kỹ thuật số, khai thác gỗ bất hợp pháp, tranh chấp đất đai và phá hoại môi trường. Ông ấy đang ngầm lên kế hoạch triển lãm phim nhân quyền tại Miến Điện với " Diễn đàn Phim Một Bước "( One Step Film Forum). "Diễn đàn Phim Một Bước"( One Step Film Forum). Thông qua "Diễn đàn Phim Một Bước" nhằm thúc đẩy sự chăm sóc nhân đạo ở Miến Điện. Đối với những người cần lên tiếng đấu tranh vì công lý,thì "Diễn đàn Phim Một Bước" là tiếng còi vạch trần sự dối trá. Thông qua các buổi chiếu phim, chúng tôi khơi gợi sự tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, hòa bình và hài hòa, đồng thời chia sẻ kiến thức về nhân quyền, công lý và hoạt động xã hội. Vào ngày đầu tiên của tháng 2 năm 2021, chính quyền lạm dụng quyền lực của quân đội chính phủ, đoạt mất việc bầu cử của chính phủ liên minh dân chủ toàn quốc. Nhiều người dân ra đường biểu tình cuộc đảo chính của quân đội. Trong quá trình đàn áp cuộc biểu tình ôn hoà trên khắp cả nước, quân đội đã giết hại nhiều thanh niên, ngay cả phụ nữ và trẻ em cũng không tha. Có sự kiện điển hình này, "Diễn đàn Phim Một Bước” càng đề cao nhân quyền, tự do và công lý, và chúng tôi sẽ đấu tranh bằng sức mạnh của điện ảnh. Năm 1961, U Nu, thủ tướng đầu tiên của Miến Điện (tên tiếng Anh cũ là Burma, sau này đổi thành Mianma) ,(U Nu) sau khi tách rời khỏi nước Anh, đã tuyên bố Miến Điện là một quốc gia Phật giáo. Ngày 29 tháng 8 năm 1961, quốc hội đã thông qua đạo luật phát triển Tôn giáo Quốc gia do chính U Nu thúc đẩy. Đạo luật này đã xác lập Phật giáo là Quốc giáo, đây là một trong những lời hứa khi tranh cử của U Nu. Sau khi Miến Điện độc lập, một số nhóm dân tộc đã nổi dậy chống lại nhà nước mới thành lập. Một trong những nhóm nổi dậy được nhiều người biết đến là nhóm dân tộc Karen, phần lớn theo đạo Tin Lành. Một nhóm khác là Đảng Cộng sản Miến Điện, được chính phủ coi là những phần tử man rợ không tin Phật giáo hoặc chống lại Phật giáo. Do phần lớn người dân Kachin đều theo đạo Tin Lành, nên sau khi quốc giáo được ban hành vào năm 1961, Quân đội Độc lập Kachin ( gọi tắt là K.I.A) đã nổi dậy. Kể từ đó, một trong những chính sách chính của nhà nước Miến Điện là độc tôn Phật giáo và thông qua Phật giáo đoàn kết người dân với một tín ngưỡng chung duy nhất. Mặt khác, chính phủ cũng giương cao đại cờ tôn vinh quốc giáo, và đàn áp các tôn giáo thiểu số khác, chẳng hạn như người theo đạo Tin Lành, người theo đạo Hindu và người theo đạo Hồi giáo. Chẳng hạn, có những tôn giáo khác đã cùng tồn tại ở Miến Điện trong hàng nghìn năm, chính phủ đã phớt lờ việc bảo tồn và phát huy các di tích tôn giáo này. Chính phủ đôi khi cũng cố tình phá hủy những di tích tôn giáo này. Nhiều học giả gọi việc làm này là " Miến hóa ". Các viện bảo tàng của Miến Điện hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của chính phủ. Viện bảo tàng bỏ qua các di tích tôn giáo khác cần được bảo tồn hoặc trưng bày, mỗi nơi ủng hộ chính sách tôn giáo của chính phủ theo cách riêng của mình.  Đa dân tộc ở Miến Điện Miến Điện là một quốc gia đa dân tộc, có 135 dân tộc khác nhau được chính phủ Miến Điện chính thức công nhận. Các nhóm dân tộc này được chia thành tám "nhóm dân tộc chính của quốc gia”, đó là: dân tộc Miến Điện, Chin, Kachin, Karen, Kayah, Mon, Ruokai và Shan. "Các dân tộc chính của quốc gia” chủ yếu là được phân chia theo khu vực, chứ không phải theo ngôn ngữ hoặc mối quan hệ của dân tộc.  Ngoài ra, có nhiều nhóm dân tộc không được công nhận, trong đó đông nhất là người Miến Điện gốc Hoa và người Pantai (chiếm 3% tổng dân số), người Miến Điện gốc Ấn Độ (chiếm 2% tổng dân số), người Miến Điện gốc Anh và Người Gurka (Gurkha). Hai nhóm cuối cùng (người Miến Điện gốc Anh và Người Gurka) không có số liệu chính thức về dân số, tuy nhiên với sự ước tính không chính thức là có khoảng 52.000 người Miến Điện gốc Anh ở trong nước và khoảng 1,6 triệu người ở nước ngoài. Các dân tộc không có trong danh sách 135 dân tộc được chính phủ Miến Điện chính thức công nhận là: ·          Người Miến Điện gốc Anh ·          Người Miến Điện gốc Hoa ·          Người Pantai ·          Người Miến Điện gốc Ấn Độ ·          Người Taungtha ·          Người Rohingya ·          Người Miến Điện Gurka / Người Miến Điện Nepalese  Các dân tộc ở Miến Điện khá đa dạng, có nhiều di sản văn hóa và tôn giáo khác nhau, nhưng hầu hết các di tích lịch sử, di sản văn hóa và truyền thống, dù thuộc nhóm dân tộc được chính thức công nhận hay không được công nhận đều không thể nhìn thấy trong các bảo tàng lớn. Thậm chí có một số di tích văn hóa minh chứng về sự bảo tồn của tôn giáo bị cố tình hủy hoại hoặc che giấu, trong khi đó lại đưa những di tích văn hoá của các tôn giáo khác vào để trưng bày như một di tích văn hoá Phật Giáo ở đây. Một di tích được nhiều người yêu thích là Nan Phayar của Bagan, một ngôi chùa cổ bằng đá sa thạch được xây dựng vào thế kỷ mười một, như một ngôi đền Hindu, cung thờ thần Brahma. Bức tượng vị thần ba đầu được điêu khắc rất rõ ràng trên tường, nhưng chính quyền và các nhà lãnh đạo tôn giáo vẫn cho đó là một ngôi chùa Phật giáo mà cố tình phá hủy một số di tích lịch sử, để che đậy sự thật lịch sử về tín ngưỡng của người Miến Điện.

2022-05-23

Các bảo tàng trực thuộc Bộ Văn hóa có thể chia thành bảo tàng quốc gia, bảo tàng khảo cổ học, cùng các bảo tàng văn hóa vùng miền thuộc bảo tàng dân tộc học và bảo tàng tưởng niệm. Một số bảo tàng tôn giáo, bảo tàng tư nhân và các di tích lịch sử được lập thêm cùng các tổ chức khác để tiến hành bảo tồn tài sản văn hóa của Miến Điện. Các loại bảo tàng khác ở Miến Điện ngày nay thường được quản lý bởi các bộ khác của chính phủ hoặc là do cá nhân khu vực. Mục tiêu chính sách văn hoá của Miến Điện là thông qua việc bảo tồn di sản văn hoá và bản sắc dân tộc, nhằm nâng cao danh tiếng và sự chính trực của quốc gia. Theo chính sách văn hóa, nhiệm vụ của Bộ Văn hóa là “từ nền văn hoá phát huy mạnh đất nước”. Các tài sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Miến Điện khá phong phú và đa dạng. Di sản văn hóa của đất nước chủ yếu được bảo tồn bởi Bảo tàng Quốc gia Miến Điện (đặt tại Yangon) và Bảo tàng Khảo cổ học Bagan, cùng với các bảo tàng văn hóa khu vực và bảo tàng khảo cổ học trực thuộc Bộ Văn hóa.  Từ những cung điện cổ xưa nhất và tàng kinh các đến những bảo tàng lớn được thành lập trước khi độc lập, chẳng hạn như Bảo tàng Khảo cổ học Bagan, sự phát triển gần đây của Bảo tàng Miến Điện được mô tả như sau. Khi Miến Điện giành lại độc lập được bốn năm, năm 1952 Bộ Văn hóa được thành lập, Bảo tàng Quốc gia đầu tiên (tại Yangon) cùng một số Bảo tàng khác ra đời. 

Chuyên mục
2022-05-23

Giới thiệu về tác giả: Ông ANDI ACHDIAN Andi Achdian là trợ lý giáo sư của ngành Xã Hội Học, Khoa Học Xã Hội và Chính Trị tại Học viện Đại học Quốc gia Indonesia. Ông cũng là người phụ trách của Quỹ Omah Munir. Giới thiệu về Viện Bảo Tàng Nhân Quyền MUNIR Viện Bảo Tàng Nhân Quyền MUNIR ban đầu có tên gọi là Bảo Tàng Nhân Quyền Nhà Munir, được thành lập vào năm 2013 bởi Quỹ Nhân Quyền Nhà Munir (Omah Munir) ở Batu, phía đông Java, và đây cũng là nơi Luật sư Munir sinh ra và lớn lên. Việc thành lập bảo tàng nhằm thúc đẩy giáo dục nhân quyền cho người dân Indonesia, đặc biệt là cho giới trẻ, nhằm bồi dưỡng những công dân yêu hòa bình, tôn trọng nhân quyền và đề cao các nguyên tắc khoan dung và bình đẳng.  LỜI MỞ ĐẦU Vào tháng 5 năm 1998, chế độ Trật Tự Mới(New Order)của Suharto tan rã. Đại tướng Suharto thoái vị sau hơn 30 năm cầm quyền và được thay thế bởi Phó Tổng thống B.J. Habibie, với lời cam kết dẫn dắt tình hình chính trị Indonesia phát triển theo hướng dân chủ. Khi chế độ Trật Tự Mới tan rã, các đảng chính trị Indonesia mọc lên như nấm, kỷ nguyên mới của chế độ chính trị đa đảng này đã trở thành nền tảng của quá trình dân chủ hóa ở Indonesia ngày nay. Tuy nhiên, nền tảng của chế độ cũ vẫn chưa hoàn toàn biến mất, mà vẫn còn tồn tại một số thành phần tàn dư ngoan cố trong nền chính trị Indonesia đương thời.  Một trong số đó là khái niệm về lịch sử Indonesia của thời hiện đại, nhấn mạnh vai trò của quân đội-là lực lượng chủ chốt trong việc giải cứu Indonesia khỏi sự đe doạ của chủ nghĩa cộng sản vào năm 1965. Quân đội đã thành công trong việc nắm toàn quyền kiểm soát cho đến những năm 1970, những bài tường thuật lịch sử này sau này được lan truyền rộng rãi hơn. Nó không chỉ nói về việc quân đội đàn áp thành công phong trào cộng sản, mà còn nhấn mạnh sự đóng góp chính của quân đội Indonesia trong việc chống lại Hà Lan giành được độc lập.  Vai trò của những nhà phong trào chống thực dân như Sukarno, Hatta, Sjahrir dần mờ nhạt, thay vào đó là vai trò của quân đội và những chiến công anh hùng của họ trong cuộc chiến giành độc lập. Trong nghiên cứu của Katherine McGregor về các câu chuyện lịch sử, còn được gọi là “lịch sử của quân phục” trong thế kỷ 20 của Indonesia, đã nhấn mạnh vai trò của quân đội trong kỷ nguyên Trật tự Mới, chính thức thiết lập lịch sử của Indonesia. Chúng tôi cũng có nguồn tin là ngoài các phong trào chính trị tiến bộ và tự do, các chính quyền cai trị còn dùng viện bảo tàng để tô vẽ vào lịch sử các tư tưởng giả dối về thế lực phản động của bọn thống trị độc tài. Đứng sau hậu thuẫn là học giả và nhà sử học quân sự Nugroho Notosusanto, người mà sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo Dục trong thời đại Trật Tự Mới. Dưới sự chỉ huy của ông, các thành phố lớn ở Indonesia nhằm ủng hộ cho những câu chuyện lịch sử này, đã cho xây dựng các bảo tàng và tượng đài nhắc nhở người dân không được quên nghĩa vụ và vai trò quan trọng của quân đội. PHONG TRÀO CHỐNG LẠI SỰ LÃNG QUÊN Dưới chế độ Trật Tự Mới, các bảo tàng không còn được định nghĩa theo nghĩa truyền thống là nơi lưu giữ "các đồ vật có giá trị nghệ thuật, văn hóa, lịch sử hoặc khoa học" (Từ điển Oxford), mà trở thành công cụ của quyền lực, làm cho vai trò lịch sử của chính quyền danh chính ngôn thuận. Ngay sau cuộc cải cách năm 1998 thì có người bắt đầu cố gắng bác bỏ nhận định này. Vào đầu những năm 2000, bài viết được các sử gia độc lập của Indonesia ủng hộ, đã trở thành tâm điểm trong các cuộc tranh luận. Asvi Warman Adam là một trong những người hàng đầu ủng hộ việc “chấn chỉnh lịch sử” (Adam, 2004). Để nhấn mạnh vai trò của quân đội, hàng trăm nghìn đảng viên Đảng Cộng Sản và những người được cho là đảng viên Đảng Cộng Sản đã bị giết trên toàn quốc Indonesia, bản tường thuật này cũng được trình bày cùng với bản tường thuật chính thức về các sự kiện của năm 1965. Tuy nhiên, làn sóng mới này vẫn chỉ là diễn giải học thuật, chỉ được lưu hành trong giới hạn phạm vi nhỏ. Diễn ngôn chính thức của Trật Tự Mới vẫn là phiên bản chính thống, với sự hỗ trợ của các văn bản và phim lịch sử từ các trường tiểu học và trung học cơ sở, đặc biệt là những bảo tàng và tượng đài của Trật Tự Mới vẫn được bảo tồn cho đến ngày nay.  Ngoài ra, những bài viết này cũng chịu đả kích từ các các nhà hoạt động nhân quyền và các phong trào ủng hộ dân chủ, họ đã cố gắng củng cố ký ức cho công chúng đừng quên những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị ở Indonesia vào năm 1988. Ngày 10 tháng 12 năm 2014, các nhà hoạt động xã hội và học giả từ Đại học Trisakti (Trisakti University), cùng với Lễ kỷ niệm Nhân Quyền Thế Giới, đã khánh thành đài tưởng niệm vụ thảm sát vào ngày 12 tháng 5 năm 1998. Đài tưởng niệm này được làm bằng sứ đen và cao 3 mét, tưởng niệm bốn sinh viên đã bị lực lượng an ninh bắn chết trong cuộc biểu tình của sinh viên trong khuôn viên trường.  Đồng thời, Ủy Ban Nhân Dân Quốc Gia về bạo lực xâm hại phụ nữ (Komnas Perempuan) đã khắc ghi văn tự trên tấm bia về vụ thảm sát tháng 5 năm 1998, để tưởng nhớ những phụ nữ hoa kiều bị bạo lực và xâm hại tình dục. Các tình nguyện viên đã đưa câu chuyện của những người phụ nữ hoa kiều bị tấn công tình dục lên các phương tiện truyền thông, gây ra tranh luận vào thời kỳ đầu trong cuộc cải cách. Chính phủ đã thành lập Nhóm Tìm Kiếm Sự Thật (TPGF) để điều tra các chứng cứ liên quan này đến vấn đề này. Tuy nhiên, nhóm đã không tìm thấy bất kỳ "chứng cứ" nào để chứng minh cho vụ án tấn công tình dục hàng loạt, và chính phủ chính thức phủ nhận chưa từng xảy ra sự việc này. Trước việc làm của chính phủ, Ita Martadinata-một tình nguyện viên trẻ tuổi, là công dân Hoa kiều cũng là nạn nhân của vụ việc, dự định đến Quốc hội Mỹ để làm chứng. Tuy nhiên, trước khi lên đường đến Hoa Kỳ, cô được phát hiện đã bị sát hại và câu chuyện tấn công tình dục hàng loạt của người phụ nữ hoa kiểu từ đó cũng bị chôn vùi lãng quên. Văn tự được khắc trên tấm bia của vụ thảm sát vào tháng 5 năm 1998 là minh chứng nhắc nhở người dân về giai đoạn lịch sự này. Đồng thời, tại Aceh-nơi phía tây nhất của Indonesia, nhiều tổ chức phi chính phủ đã thực hiện một bước đi xa hơn, đó là vào năm 2011 thành lập Bảo tàng Nhân quyền Aceh. Viện bảo tàng quy mô nhỏ. Các tổ chức này tại khu Tikar Pandan (Tikar Pandan Community) dựng lên cái bảng thẳng đứng tại sân của văn phòng, nội dung mô tả vụ bắn chết người dân biểu tình, những người bị mất tích trong cuộc xung đột của Simpang KKA, và Nhà Geudong (Rumoh Geudong), đây là nơi những người lính tra tấn những người bị nghi ngờ đồng lòng với phong trào Aceh Tự Do. Đây là một bảo tàng giản dị mộc mạc, nhưng mang một sứ mệnh lớn lao, như đã được nêu trong tuyên ngôn của nó : Chúng tôi tin rằng tia sáng mong manh yếu ớt cũng có thể soi sáng ở một nơi tối tăm. Vì vậy, chúng tôi đã xây dựng một nơi gìn giữ ký ức, như thế thì chúng ta và những người đàn ông và phụ nữ của Aceh, những người đang sống và những người đã chết, những người bị tấn công tình dục và bị tàn sát, những người đã bị tra tấn và bị tiêu diệt, có thể gào thét lên tiếng nói của mình mà không màng đến sự sống và cái chết: ĐỪNG PHẠM PHẢI NHỮNG SAI LẦM TƯƠNG TỰ NHƯ THẾ NỮA !Aceh bek le lagee njan! ACEH KHÔNG ĐƯỢC MẮC PHẢI NHỮNG SAI LẦM TƯƠNG TỰ NHƯ THẾ NỮA! Tóm lại, những cải cách chính trị của Indonesia đã mở ra cánh cửa cho các nhà hoạt động nhân quyền và các phong trào ủng hộ dân chủ ở Indonesia, ngoài tuyên bố chính thức của chính phủ đã thiết lập một sự tưởng thuật mới về lịch sử. Với khẩu hiệu “Chống lại sự lãng quên”, họ hưởng ứng văn hóa không trừng phạt của Indonesia, cho phép những kẻ vi phạm nhân quyền trong quá khứ không bị trừng phạt. Thông qua các viện bảo tàng và đài tưởng niệm phát động phong trào chống lại sự lãng quên, cuối cùng đã biến thành chiến dịch chống lại sự liên quan của chính phủ đối với những tội ác này.  Nhà Munir(Omah Munir) Nói cách khác, việc viện bảo tàng làm như thế nào để trở thành minh chứng cho chủ nhà của các phong trào xã hội, đó là Bảo tàng Nhân quyền Munir đang được xây dựng ở Thành phố Batu, Malang, phía đông Java. Tôi sẽ mô tả ngắn gọn quan điểm của mình với tư cách là một thành viên của Quỹ Nhà Munir.  Bắt đầu từ câu chuyện vi phạm nghiêm trọng nhân quyền ở Indonesia, tương tự như những gì luật sư về nhân quyền nổi tiếng người Indonesia Munir Said Talib (1965-2004) đã gặp phải. Vào ngày 7 tháng 9 năm 2004, ông đã bị giết khi đang trên đường đi học lớp nâng cao ở Hà Lan. Bên cạnh những cải cách đã mở đầu bước chuyển mình cho quá trình dân chủ hóa ở Indonesia, cái chết của Munir là một tiếng hồi chuông cảnh tỉnh cho nhiều người Indonesia rằng di sản của chế độ cũ vẫn còn ăn sâu bén rễ vào đời sống của người dân đương thời. Việc xét xử vụ án của ông chỉ có thể đưa những người trực tiếp ra tay sát hại ông ra trừng trị theo luật pháp, nhưng những người tình báo và quân đội cấp cao chủ chốt vẫn còn ung dung ngoài pháp luật. Trong vụ sát hại Munir, một lần nữa hiện tượng văn hoá có tội mà không bị trừng phạt lại được khôi phục.  Vào năm 2013, khi tôi vừa thành lập một bảo tàng cảnh sát ở Indonesia, bà vợ goá phụ Suciwati của ông Munir đã liên lạc với tôi. Bà ấy nói với tôi rằng bà muốn thành lập một viện bảo tàng vì chồng của bà và cuộc đấu tranh giành nhân quyền ở Indonesia. Tôi quen khá thân với Munir, ông cũng là đồng nghiệp cũ của tôi, ông ấy là người đã dẫn dắt tôi khi tôi làm việc trong cơ quan trợ giúp pháp lý ở Indonesia. Tôi nghĩ đề xuất của bà Suciwati là một ý tưởng tuyệt vời, nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo tàng được xem như một chủ nhà để “tham gia vào cuộc đấu tranh”, ví dụ như Bảo tàng Quốc Gia của Người Mỹ Da Đỏ được thành lập trong phong trào dân quyền Hoa Kỳ trong những năm 1980,(National Museum of the American Indian)(Kyle Message,năm 2013).  Câu hỏi được đặt ra là nguồn kinh phí cho dự án sẽ lấy từ đâu? Việc xây dựng bảo tàng rất tốn kém, nó đòi hỏi sự cố vấn của các kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng và nhà sử học, điều này đã trở thành một thách thức nặng nề. Bà Suciwati đã giải quyết vấn đề khó khăn đầu tiên bằng cách bà đã hiến tặng ngôi nhà của bà và cố luật sư Munir ở Batu, phía đông Java để làm viện bảo tàng. Đó là một ngôi nhà có diện tích chưa đầy 400m2, bao gồm cả sân vườn và các phòng ốc. Tuy nhỏ nhưng ngôi nhà này có giá trị lịch sử to lớn và là một nơi thích hợp để dùng làm phát triển dự án.  Đến giữa năm 2013, bà Suciwati muốn thu hút được nhiều sự ủng hộ hơn nên có ý tưởng thành lập một bảo tàng để kể về cuộc đời của ông Munir và lịch sử đấu tranh cho nhân quyền của Indonesia, và đã gây được tiếng vang rộng rãi. Các nhà phong trào xã hội trẻ, nghệ sĩ và các nhân vật nổi tiếng trên truyền thông đã sôi nổi hưởng ứng, bao gồm các nhà chính trị và quan chức chính phủ có thiện cảm với ông Munir, chẳng hạn như Lukman Hakim Syaifuddin, người mà sau này trở thành Bộ trưởng Tôn giáo, và nhà điều hành mạng truyền thông Dahlan Iskan, người mà sau này trở thành Bộ trưởng Doanh nghiệp Quốc gia. Sự phát triển của viện bảo tàng này cuối cùng đã mở rộng mạng lưới các phong trào ủng hộ dân chủ ở Indonesia.  Quá trình xây dựng toà bảo tàng này cuối cùng đã mở ra một con đường mới để thúc đẩy nhân quyền ở Indonesia. Những người trước đây cảm thấy rằng các vấn đề về nhân quyền và dân chủ hóa là một điều xa vời, lại đột nhiên đầu tư thời gian, tinh thần và tiền bạc của họ vào dự án chung. Điều này cũng phản ánh suy nghĩ của nhà xã hội học Sidney Tarrow (2011) về hành động của tập thể theo tính mô-đun hoá, xã hội dân chủ thông qua liên hợp hành đồng đem những phần của quá khứ đã bị chia cắt gắn kết lại vào nhau. Vào cuối năm đó, kiến trúc xây dựng viện bảo tàng đã hoàn thành và vào ngày 8 tháng 12 năm 2013, chính thức dùng tên gọi Nhà Munir (Omah Munir) mở cửa cho công chúng vào tham quan. Đây vốn dĩ chỉ là một ước mơ, và bây giờ cuối cùng nó đã trở thành hiện thực. Sau đó, để điều hành và quản lý bảo tàng, đã thành lập Quỹ Nhà Munir, do những người khởi xướng thành lập bảo tàng gộp lại hợp tác với nhau. Dự án của Nhà Munir trực tiếp thách thức chính phủ về những câu chuyện lịch sử được lưu truyền trong nhiều thập kỷ mà họ đã che giấu. Bảo tàng cung cấp một trải nghiệm trái ngược với những câu chuyện lịch sử vốn có. Khi du khách đến tham quan bảo tàng, nghênh tiếp họ là bức tượng bán thân của Luật sư Munir, đây là món quà của một nhà điêu khắc trong quá trình xây dựng bảo tàng hiến tặng. Sau đó, khách tham quan được giới thiệu hàng loạt các câu chuyện lịch sử, những câu chuyện lịch sử này cho thấy sau khi chế độ Trật Tự Mới được thiết lập không lâu, phong trào nhân quyền ở Indonesia thông qua việc thành lập YPHAM (Tổ Chức Bảo Vệ Nhân Quyền) và YLBHI (Tổ Chức Trợ Giúp Pháp Lý Indonesia) đã ra đời. YPHAM là một tổ chức nhiệt huyết bảo vệ các tù nhân chính trị cộng sản và thúc đẩy các phong trào đấu tranh vì công lý, sự thật này thách thức những lý giải của chính phủ về thành công của quân đội trong việc đàn áp phong trào cộng sản.  Bảo tàng cũng trưng ra câu chuyện về Marsinah, một nữ lao động đã bị giết trong các cuộc thẩm vấn của quân đội vì tham gia dẫn đầu một cuộc đình công. Câu chuyện của Marsinah được phơi bày tại Nhà Munir, cũng như nhắc nhở du khách rằng những thành tựu phát triển của Indonesia được đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt và xương máu của những người lao động. Các câu chuyện khác càng nói rõ những sự vi phạm nhân quyền trầm trọng ở Indonesia, chẳng hạn các vụ bắt cóc mất tích và các vụ thảm sát chính trị ở Papua và Đông Timor (nay là các quốc gia độc lập). Bảo tàng tất nhiên cũng chứa đựng cuộc sống đời thường của ông Munir và những trãi nghiệm của ông ấy với tư cách là một nhà bảo vệ nhân quyền, cũng như sự kiện vụ giết hại ông. Kể từ khi chính thức mở cửa vào ngày 8 tháng 12 năm 2013, Nhà Munir đã chào đón du khách từ mọi thành phần với các độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, sinh viên đại học và học sinh là nhóm khách đến tham quan đông nhất. Họ coi việc tham quan các viện bảo tàng là một phần của chương trình giáo dục về nhân quyền của các cấp trường học và trường đại học. Sau năm năm nhìn lại, điều thú vị là viện bảo tàng có thể trở thành trung gian có ích trong việc thúc đẩy các tổ chức nhân quyền, đưa các tiêu chuẩn quan trọng của nhân quyền phổ biến vào cuộc sống của người Indonesia.  BẢO TÀNG NHÂN QUYỀN MUNIR Trên thực tế, với một phạm vi hạn chế nhỏ như bảo tàng Nhà Munir rất khó tìm ra giải pháp thay thế cho các diễn giải về sự bảo thủ của câu chuyện lịch sử. Năm 2018, uỷ ban quản lý Nhà Munir bắt đầu nghĩ về tầm quan trọng của việc phát triển quan hệ hợp tác với chính phủ, cộng tác trong lĩnh vực xây dựng, cơ sở hạ tầng, lập kế hoạch và hệ thống hỗ trợ để tăng cường và tạo điều kiện phát triển của Nhà Munir thành một bảo tàng nhân quyền lớn hơn. Bước này khá thành công, và chính phủ hứa sẽ tài trợ cho việc xây dựng một viện bảo tàng, kinh phí được cung cấp bởi chính quyền tỉnh Đông Java, và đất đai là do chính quyền thành phố Batu cung cấp.  Ngoài ra, hội đồng quản trị đã trình bày chi tiết về sự hợp tác rộng rãi hơn với các thành viên khác của cộng đồng xã hội, với ba hoạt động chính trong phương diện này: Đầu tiên, hợp tác của hiệp hội kiến trúc sư Indonesia (Indonesian Architects Association,AAI) tổ chức một cuộc thi thiết kế bảo tàng, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của bảo tàng nhân quyền. Kiến trúc sư Achmad Deni Tardiyana (còn được gọi là Apep) nổi bật với thiết kế độc đáo và lôi cuốn, hòa nhập và thân thiện với môi trường. Thứ hai, Quỹ Nhà Munir cũng đã hợp tác với Viện Nghệ thuật Jakarta để tổ chức một cuộc thi sáng tác nghệ thuật được trưng bày trong bảo tàng. Thứ ba, Nhà Munir cũng đã sắp xếp các cuộc họp thương lượng với các nhà phong trào bảo vệ môi trường, các nhà báo, người dân bản địa, người khuyết tật và các nhà phong trào bảo vệ quyền lợi phụ nữ để thảo luận nghiên cứu những câu chuyện và chủ đề có thể tường thuật trong bảo tàng. Trọng điểm sau cuộc họp là đưa ra một chủ đề chính trong sự phát triển của quản lý bảo tàng.  Tầng trệt được đặc biệt thiết kế dành cho trẻ em, để trẻ em có thể nhận biết được những giá trị quan trọng của cuộc sống công đồng, như lòng khoan dung, tự do và bình đẳng. Tầng thứ hai trưng bày lịch sử nhân quyền ở Indonesia, bao gồm các sự kiện vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, môi trường, người dân bản địa, phụ nữ và tự do báo chí v..v..do các nhóm cộng đồng xã hội Indonesia nêu ra. Tầng cuối cùng là nói về cuộc đời của luật sư Munir và công việc mà ông đã quảng bá, ví dụ trưng bày sự kiện về những người mất tích ở gian cuối cùng trên tầng ba, để khách tham quan nghĩ lại về các vấn đề nhân quyền ở Indonesia.  Phải thừa nhận rằng hợp tác cùng với chính phủ cũng đặt ra câu hỏi về tính độc lập của việc giám tuyển, đặc biệt là về các vấn đề nhân quyền. Liệu bảo tàng nhân quyền trong tương lai có thể dùng thái độ chí công vô tư để đối mặt với bạo lực nhân quyền nghiêm trọng trong lịch sử Indonesia hay không?  Nhưng trong quá trình này, thực sự có một số chấn chỉnh và thay đổi. Đầu tiên, tên của viện bảo tàng được đổi thành Bảo tàng Nhân Quyền Munir. Nhưng điều này không có nghĩa là bảo tàng thuận ý với quan điểm của chính phủ, không chỉ là chủ đề cụ thể về cuộc đời của những người bảo vệ nhân quyền được trưng bày trong các viện bảo tàng trước kia, mà bảo tàng còn hy vọng sẽ nắm bắt được các vấn đề nhân quyền rộng lớn hơn ở Indonesia. Về mặt độc lập giám tuyển, may mắn là cơ cấu chính trị ở Indonesia vẫn cởi mở cho sự độc lập này.  Tương lai cũng có thể xảy ra điều tội tệ hơn nữa nhưng có một điều chắc chắn là thông qua lần trải nghiệm này, các bảo tàng và di tích lịch sử đã trở thành những địa điểm cho các phong trào xã hội quan trọng như phong trào dân chủ và các nhà hoạt động nhân quyền trong giai đoạn cải cách, thời gian sẽ trả lời liệu đây có phải là một cách hiệu quả để truyền bá tầm quan trọng của các giá trị nhân quyền trong thế hệ trẻ Indonesia hay không.

2022-03-30

Giới thiệu về tác giả: Bà Tracy Puklowski hiện đang sống ở Alice Springs, nước Úc, bà chịu trách nhiệm phát triển phòng trưng bày Nghệ Thuật Thổ Dân Quốc Gia đầu tiên của đất nước. Bà trước đây là trưởng phòng Nghệ Thuật Sáng Tạo Và Dịch Vụ Văn Hóa của thành phố Launceston, Tasmania, công việc của bà là phụ trách phòng bảo tàng và phòng trưng bày Nghệ thuật Nữ hoàng Victoria, và tổ chức văn hóa khu vực lớn nhất của Úc. Trước khi chuyển đến nước Úc, Tracy đảm nhiệm nhiều vị trí điều hành cấp cao khác nhau trong ngành GLAM của New Zealand (phòng trưng bày nghệ thuật, thư viện, kho lưu trữ, phòng bảo tàng). Bà tốt nghiệp viện nghiên cứu lãnh đạo phòng bảo tàng Getty (Getty's Museum Leadership Institute) Giới thiệu đơn vị: Phòng Trưng Bày Nghệ Thuật Thổ Dân Quốc Gia Úc Phòng Trưng Bày Nghệ Thuật Thổ Dân Quốc Gia ở Alice Springs của Úc (được người dân địa phương gọi là 'Mbantua', Mparntwe) trở thành điểm biểu tượng của việc tham quan. Không gian mới giữa trung tâm nước Úc này sẽ giới thiệu nền văn hóa còn tồn tại lâu đời nhất trên thế giới, và là nơi giới thiệu về thổ dân Úc, thông qua nghệ thuật để phô bày và tôn vinh những thành tựu của họ. Các phòng trưng bày nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc nói lên sự thật về nước Úc, và đảm bảo rằng phần lớn việc điều hành, quản lý và lực lượng lao động sẽ do thổ dân đảm nhiệm. Bằng cách này, bảo tàng nghệ thuật trở thành một phương tiện cho thổ dân Úc, để họ kể những câu chuyện của họ cho thế giới biết, truyền năng lượng cho thế giới, và quyết định làm cách nào để kể những câu chuyện đó. Việc thành lập chi nhánh Châu Á - Thái Bình Dương của Liên minh Quốc tế về bảo tàng Nhân quyền vào năm 2019 là một thời điểm quan trọng trong giai đoạn toàn cầu công nhận tầm quan trọng của nhân quyền đối với diễn ngôn và tính thực tiễn của bảo tàng. Việc thành lập các chi nhánh khu vực của Liên minh Quốc tế về bảo tàng Nhân quyền với trọng tâm là để các khu vực mạnh dạn nói lên tiếng nói mà thường bị xao nhãng, cung cấp một nền tảng quan trọng để phân biệt và giải quyết các vấn đề nhân quyền cụ thể theo từng khu vực. Trong bài viết này, tôi sẽ chỉ ra căn nguồn của mình với Liên minh Quốc tế về Bảo tàng Nhân quyền, và suy ngẫm những nguyên nhân khi giải quyết những vấn đề về nhân quyền vì lợi ích của mọi người mà nhất định phải từ bên lề đến cốt lõi trung tâm. Khi Liên minh Quốc tế về Bảo tàng Nhân quyền được thành lập vào năm 2010, tôi vinh dự được mời làm thành viên sáng lập, sự thành lập của liên minh vừa đến đúng lúc lại vừa làm cho người ta phấn khởi, giới bảo tàng ngày càng quan tâm đến các vấn đề bình đẳng xã hội, nhưng đây là lần đầu tiên kết hợp sức mạnh của quốc tế để trả lời các vấn đề nhân quyền.  Nhưng lương tâm tôi có một chút nao núng. Tôi có quyền tuyên bố rằng chúng tôi là một toà “Bảo tàng Nhân quyền” thay cho Bảo tàng Te Papa Tongarewa (Museum of New Zealand Te Papa Tongarewa, còn gọi là Te Papa) mà tôi đang phục vụ tại thời điểm đó hay không? Và chính xác thì Bảo tàng Nhân quyền là gì? Tôi hy vọng tôi đã không vô tình biến bảo tàng của mình thành hàng nhái.  Sau khi xem xét lại lịch sử và các giá trị của bảo tàng chúng tôi, kết luận của tôi là một bảo tàng mang danh là nhân quyền, không nhất thiết phải có một sứ mệnh nhân quyền rõ ràng. Sự dốc sức trong việc thúc đẩy sự đa dạng, bao dung và sẵn sàng giải quyết các vấn đề khó khăn của bảo tàng Te Papa, có nghĩa là chúng tôi có đủ điều kiện để xếp vào trong hàng ngũ này.  Khi tôi chủ trì Hội nghị Liên minh Quốc tế về Bảo tàng Nhân quyền vào năm 2015, tôi đã viết: “Đối với Bảo tàng Te Papa, công bằng xã hội, nhân quyền và quyền tiếp cận bảo tàng theo nghĩa rộng nhất không phải phụ thuộc nhau, hoặc lựa chọn muốn hay không muốn. Đây là cốt lõi thừa hưởng của bảo tàng này, còn được gọi là whakapapa trong tiếng Maori. Luật Bảo tàng Quốc gia của New Zealand đã được thông qua vào năm 1992, đặt nền tảng vững chắc cho bảo tàng này sẽ mở ra một hướng đi mới... Khi Hội đồng Bảo tàng áp dụng chính sách đa văn hóa... thì họ cam kết rằng bảo tàng phải mang tính đa văn hoá cho dù trong bất cứ lĩnh vực nào. Ngoài ra, viễn cảnh của Bảo tàng Te Papa là“Thay đổi tâm hồn, thay đổi tư duy, thay đổi cuộc sống”, do đó bảo tàng này vốn là giải quyết những đề tài vừa khó khăn vừa đáng lo ngại, nếu bảo tàng thực sự muốn tạo ra những trải nghiệm đổi mới cho khách tham quan, cộng đồng, thậm chí là nhân viên của họ, thì phải sẵn sàng giữ vững lập trường.  Như đã tuyên bố trên trang web của Liên minh Quốc tế về Bảo tàng Nhân quyền, các Bảo tàng Nhân quyền phải được chuẩn bị sẵn sàng để thách thức tư duy và hành động của bảo tàng truyền thống. Vì vậy, tôi cho rằng Te Papa là một Bảo tàng Nhân quyền, tôi cũng mong đợi để nghênh đón chuyến thăm người đại diện của chúng tôi vào tháng 9.” 1 Điều thú vị là, bài viết này mặc định rằng có một số bảo tàng có thể cảm thấy nhân quyền không phải là một lĩnh vực cần thiết, vì vậy, cần phải thuyết phục những bảo tàng này nhìn lại chính họ từ góc độ bản thân. Có lẽ họ cần có lời hứa tìm ra lý do chính đáng cho cam kết việc thúc đấy nhân quyền, như tôi đã làm như thế vào năm 2020. Trong cùng một bài viết, tôi cũng chỉ ra rằng bối cảnh của các bảo tàng đang thay đổi “nhanh chóng và dữ dội”. Tôi đã đề cập đến bộ mặt văn hóa và chính trị của New Zealand, lúc đó không thể dự đoán được mọi điều có thể thay đổi nhanh chóng và dữ dội như thế nào đối với tất cả mọi người trong vài năm tới. Những “điều” này là xoay chuyển điển hình về sự càn quét toàn cầu và thay đổi cuộc sống, hậu quả là do con người gánh chịu chung, và chúng cũng đòi hỏi sự phản ứng dứt khoát mạnh mẽ của chúng ta. Cảm thấy rằng định nghĩa hiện tại về bảo tàng không thể “phản ánh và thể hiện thích hợp về tình hình phức tạp của thế kỷ XXI, những trách nhiệm và quyết tâm của các bảo tàng hiện tại cũng như những thách thức và viễn cảnh trong tương lai ”, Năm 2019, Hội đồng Bảo tàng Quốc tế (International Council of Museums, gọi tắt là ICOM) đã đưa ra một chương trình định nghĩa mới cho các bảo tàng. 2 Nhiều người trong chúng ta hoang mang khi xem những cuộc khẩu chiến, sau đó cảm thấy khó chịu vì sự khác nhau ngôn ngữ và quan điểm rồi bị rơi vào tình cảnh chia cách tư tưởng. Vấn đề này sẽ được tranh luận một lần nữa tại Đại hội Prague vào năm 2022, chúng ta chỉ có thể hy vọng rằng các sự kiện trong hai năm qua có thể thúc đẩy sự đoàn kết trong giới bảo tàng.  Có lẽ cũng sẽ như vậy. Các thời sự toàn cầu, khán giả và các nhóm liên quan có ích đến bảo tàng sẽ không ngồi đợi giới bảo tàng quyết định xem định nghĩa của chính họ có đúng hay không, trong những năm qua, những thay đổi và thách thức không chỉ ở gần ngay ngưỡng cửa, mà còn lan toả khắp các phòng triển lãm, kiểm sách, khiến chúng tôi lo sợ.  Điều 27-1 của Tuyên ngôn Quốc Tế về Nhân quyền Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy. Chúng ta còn đang chìm đắm trong đại dịch toàn cầu, đại dịch này đã thay đổi vĩnh viễn cuộc sống quen thuộc lâu nay như chúng ta. Các bảo tàng và phòng trưng bày nghệ thuật không chỉ “chuyển hướng” ứng phó, mà còn linh hoạt vượt qua, khắc phục những khó khăn trong việc phong tỏa thành phố, đưa tinh thần mới đến việc học trực tuyến, trải nghiệm và tham gia, quản lý không trung và cộng đồng, và thật đáng tiếc cho một số viện bảo tàng phải đối mặt với thực tế đóng cửa vĩnh viễn. Dịch bệnh đối xử bình đẳng với tất cả mọi người và không ai có thể tránh khỏi tác động của nó, nhưng dịch bệnh cũng là một đồng loã của bất bình đẳng, nó làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói và làm con người dễ tổn thương hơn.  Vì vậy, những bảo tàng có khả năng vĩnh viễn đóng cửa nhất là những bảo tàng nhỏ từ đầu đến cuối luôn vật lộn để có được nguồn tư liệu, những bảo tàng này truyền bá những câu chuyện về di sản của các cộng đồng đoàn kết nhỏ, đồng thời duy trì lịch sử và truyền thống cho người dân và cộng đồng của họ.  Đây là một lời nhắc nhở về trách nhiệm của chúng ta trong việc vun đắp cộng đồng, phục vụ cộng đồng, gìn giữ ký ức của cộng đồng, chia sẻ câu chuyện của họ. Chúng ta phải tiếp tục xóa bỏ rào cản về quyền tiếp cận các bảo tàng, để cùng nhau sáng tạo chứ không phải là bị thống trị. Và phối hợp cộng đồng với các cá nhân ghi lại thời kỳ đặc biệt này cho thế hệ mai sau, sau trải nghiệm nhân văn được chia sẻ sâu sắc này, việc hỗ trợ tái thiết và chữa lành những tổn thương, vừa là một thách thức vừa là vinh dự cho bảo tàng.  Sức mạnh chữa lành những tổn thương của nghệ thuật không phải là một khái niệm mới, cũng không phải là một quan niệm mới khi cho rằng bảo tàng là nơi an toàn (và cần thiết) sau khi bị tổn thương mọi người có thể sum họp lại với nhau để nhắc đến và tưởng nhớ những sự kiện đau buồn. Nhưng lần này phải đi sâu hơn nữa, để khu vực trở thành toàn cầu, và ngược lại.  Điều 3 của Tuyên ngôn Quốc Tế về Nhân quyền Ai cũng có quyền được sống, quyền tự do và an ninh của con người. Điều 25-1 của Tuyên ngôn Quốc Tế về Nhân quyền Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.   Cuộc khủng hoảng khí hậu toàn cầu cũng là một mối đe dọa lớn đối với lối sống của chúng ta, và cũng là một cuộc đe dọa lớn về nhân quyền. Biến đổi khí hậu đe dọa đến an toàn thực phẩm, nơi ở và sinh mệnh của chúng ta. Mặc dù các quốc đảo nhỏ góp phần rất ít vào làm biến đổi khí hậu so với những quốc đảo lớn khác, nhưng trên thực tế, khi đối mặt trước các chấn động biến đổi khí hậu thì những quốc gia này dễ bị tổn thuơng nhất, mối đe doạ khá cụ thể đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.   Trong việc nâng cao nhận thức và hành động về biến đổi khí hậu, tất cả các bảo tàng đều phải có trách nhiệm, trong một thế giới "phía sau sự thật", nơi các nhà khoa học đều phải bảo vệ tính sự thực của khoa học, các viện bảo tàng càng phải là người đảm nhiệm bảo vệ những chứng cứ. Khi tôi là người phụ trách của Bảo tàng và Phòng trưng bày Nữ hoàng Victoria (Queen Victoria Museum and Gallery,gọi tắt là QVMAG) ở Tasmania, Australia, các nhà khoa học của chúng tôi phát hiện ra rằng các loài động vật (côn trùng) đang dần di cư về phía nam để thích ứng với môi trường dần ấm lên. Với những bằng chứng này cộng thêm chính quyền địa phương tuyên bố sắp đến có một cuộc khủng hoảng khí hậu, quyết định của bảo tàng trong việc coi biến đổi khí hậu trở thành ưu tiên cốt lõi là không có vấn đề gì. 3 Nhưng điều quan trọng không phải dựa trên những kiến thức và chứng cứ trong bộ sưu tập, mà hành vi cũng liên quan. Vào đầu năm 2020, bảo tàng Horniman và khu vườn ở London (Horniman Museum and Gardens)đã thông qua một bản tuyên ngôn về biến đổi khí hậu có tầm ảnh hưởng sâu rộng, không chỉ tập trung vào làm việc với khách tham quan bảo tàng để nâng cao nhận thức mà thay đổi hành vi, còn thử thách các bảo tàng xem xét lại thói quen và hoạt động của họ.  Giới bảo tàng cần phải suy nghĩ họ có thể làm gì đối với vấn đề biến đổi khí hậu - chúng ta sử dụng nguồn tư liệu của mình như thế nào? Có phải chúng ta đang bắt đầu lên kế hoạch cho các công trình lâu dài không? Các nhà tài trợ có đồng tình với quan điểm của chúng ta không? Cuộc tranh luận gần đây về việc tài trợ bảo tàng từ các công ty dầu mỏ không nằm trong hội đồng quản trị, mà được tổ chức trong không gian công cộng.  Còn nhu cầu của những người tị nạn khí hậu thì sao? Nếu bạn nghĩ đó là một vấn đề trong tương lai thì bạn đã nhầm rồi. Hiện nay vấn đề này đang xảy ra, vào năm 2020, có 30,7 triệu người trên toàn cầu phải trôi giạt khắp nơi, hơn 98% trong số này là do các thảm họa liên quan đến khí hậu. 4 Hàng ngàn cư dân của Quần đảo Marshall đã được sắp xếp định cư ở các vùng của Hoa Kỳ, ở nơi đó, họ phải đối mặt thử thách mới là làm thế nào để duy trì văn hóa và truyền thống của họ.  Điều 7 của Tuyên ngôn Quốc Tế về Nhân quyền Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này. Phong trào “mạng sống của người da đen cũng đáng giá” đã lặp lại khi cảnh sát sử dụng vũ lực chống lại người da đen làm bùng lên các cuộc biểu tình thế giới. Làn sóng này ban đầu tập trung vào sự tàn bạo của cảnh sát, sau khi nhận được hưởng ứng trên khắp toàn cầu thì mở rộng sang các vấn đề liên quan đến chế độ phân biệt chủng tộc và hậu quả của chủ nghĩa thực dân. Việc này ngược lại càng làm cho mọi người hiểu rõ hơn về những quá khứ và việc làm của bảo tàng.  Không có gì lạ khi đặt câu hỏi về việc làm của các bảo tàng trên nhiều mặt, chính phủ yêu cầu viện bảo tàng Anh trả lại các tác phẩm chạm khắc trên đá Parthenon từ những năm đầu 1980, vào năm 1990 nhà sử học nghệ thuật người Mỹ Maurice Berger cũng đặt ra câu hỏi “Các bảo tàng nghệ thuật có phân biệt chủng tộc không?”. Nhưng những việc này chưa bao giờ giống như hiện nay, đó là cuốn theo tinh thần của thời đại mà đến.  Giống như “Hãy thuộc địa hóa nơi này”( Decolonize This Place)và “Để lại dầu khí Vương Quốc Anh hay không”(BP or not BP)các nhóm này đã tiếp quản không gian bảo tàng thông qua những thủ đoạn liên quan đến hình thức biểu diễn, thu hút sự chú ý của người dân đối với nhà tại trợ bảo tàng, về hoàn trả di vật văn hoá, cách đạt được tàng phẩm, tính năng động của thổ dân và điều kiện làm việc của nhân viên. Tiết mục “Chuyến tham quan lịch sử tự do”(The Unfiltered History Tour)của nhà sản xuất truyền thông Vice đã khám phá câu chuyện về “di vật văn hoá gây tranh luận” của Bảo tàng Anh. 5 Một điều châm biếm kinh ngạc là các cựu nhân viên của một số tổ chức văn hóa và cả Bảo tàng Nhân quyền Canada cũng đã lên tiếng chống lại sự bất bình đẳng tại nơi làm việc và tệ nạn phân biệt chủng tộc trong đó trong những năm gần đây. Khi các cộng đồng di tích văn hóa yêu cầu hoàn trả lại các kho tàng văn hóa của họ một cách chính đáng, tiếng nói của họ ngày càng mạnh mẽ hơn. Vào năm 2018, con cháu của Rapa Nui ở Đảo Phục Sinh đến Bảo tàng Anh, yêu cầu trả lại Tupuna (tổ tiên) của họ, đó là một bức tượng Moai còn được gọi là Hoa Hakananai'a. Vụ cướp thuộc địa Hoa Hakananai'a trong tiết mục chuyên đề “Chuyến tham quan lịch sử tự do”, Talita Rapu (tỉnh trưởng đời sau của Đảo Phục Sinh) nói thẳng rằng: “Rapa Nui có thể xác, nhưng linh hồn nằm trong tay tụi mày. Chúng tôi sống mà không có linh hồn, như như một xác chết biết đi lại”. 6Với những người nghiên cứu các bộ sưu tập của thổ dân đều biết rằng linh hồn của một di tích văn hóa nằm trong dân tộc, gia đình và con cháu của nó. Đây không phải là biến trạng thái bình thường thành ngoại lệ sao? Nếu tất cả nhân quyền truyền thống cho rằng sự tái hợp của “thể xác và linh hồn” là sự kết hợp tốt nhất, thì bảo tàng dùng lập luận gì để biện luận cho mình? Nếu chúng ta không tích cực chủ động tách khỏi chủ nghĩa thực dân, chúng ta chắc chắn phải chịu trách nhiệm về những hậu quả ngày càng tồi tệ hơn. Điều 3 Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền của các đân tộc bản địa Mọi dân tộc bản địa có quyền tự quyết.  Theo đó, họ tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do mưu cầu sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội.  Sống ở một đất nước không có liên bang các cấp đạo luật nhân quyền, khi viết bài viết này tôi thấy mình đang đứng trên một lập trường khiến mọi người phải cân nhắc, mặc dù các bang (Úc) đang từng bước áp dụng các biện pháp để bảo vệ nhân quyền của công dân. Mặc dù tình trạng có thể không như ý muốn, nhưng nó thật sự đặt ra trách nhiệm duy trì và ý nghĩa nhân quyền phó thác cho, được giao lại cho các cá nhân và tổ chức. Đồng thời, tôi cũng đang xây dựng một đơn vị văn hoá mới, đó là Phòng Nghệ thuật Quốc gia Thổ dân Úc, trụ sở tại Alice Springs thuộc lãnh thổ phía Bắc. Đây là một nơi vừa mỹ lệ lại mâu thuẫn, nó là sự kết hợp giữa nền văn hóa và nghệ thuật độc đáo cùng là nơi tồn tại sự yếu đuối và những vết thương của các thế hệ.  Những nhóm thổ dân ở Úc 7đại diện cho nền văn hóa lâu đời nhất trên thế giới còn tồn tại cho đến ngày nay, văn hóa thị giác của nó là trường tồn và đầy sống động. Khi nghệ thuật của nhóm thổ dân chuyển từ cát và đá sang tranh bảng và tranh sơn dầu, dấu vết của lịch sử nghệ thuật Úc đã thay đổi một cách không thể đảo ngược lại, làm say lòng khán giả trên khắp thế giới. Nghệ thuật gia và cộng đồng của họ đều mang lại lợi ích về mặt xã hội, kinh tế, văn hóa và cả tinh thần, họ đem những câu chuyện và lịch sử của thổ dân giới thiệu với khán giả mới và tăng cường sự kết nối văn hóa với nhau. Đối với tôi, lãnh thổ phía Bắc là phòng trưng bày nghệ thuật lớn nhất và sôi động nhất trên thế giới, mà hiện nay tôi coi đó là quê hương của tôi.   Lãnh thổ phía Bắc cũng có tỷ lệ thổ dân và cư dân trên quần đảo eo biển Torres cao nhất ở Úc, gần 45% gia đình người thổ dân sống dưới mức nghèo khổ. 8Tỷ lệ tự tử ở thanh niên là gấp ba lần tỷ lệ trung bình trên toàn quốc. 9Gần 85% dân số trong nhà tù của lãnh thổ phía Bắc là thổ dân. 10 Vì vậy, câu hỏi tôi tự hỏi mình là một viện bảo tàng nghệ thuật không phải như Viện bảo tàng Nghệ thuật Thổ dân Quốc gia (nếu nói như thế này, những nơi khác thì cũng vậy) có nên đấu tranh cho nhân quyền hay không, mà là chúng ta phải làm thế nào đấu tranh. Nếu chúng ta muốn có ý nghĩa và tạo ra ý nghĩa, chúng ta cần hình dung lại và thiết lập lại hệ sinh thái của mình. Đối với Bảo tàng Nghệ thuật Thổ dân Quốc gia, điều này có nghĩa là giữ chặt các nguyên tắc của các dân tộc thổ dân, đảm bảo vị trí điều hành, quản lý và nhân viên phải là thổ dân cai trị, điều đó cũng có nghĩa là bảo tàng cần phải thúc đẩy tiếng nói, tính năng động, chia sẻ quyền và trách nhiệm, và nói lên chính kiến của mình. Điều này là cần thiết nếu Úc muốn hàn gắn vết thương của quá khứ và tiến tới hòa giải dân tộc trên toàn quốc. Vô số phòng trưng bày nghệ thuật thông thường / các bảo tàng nghệ thuật điển hình còn lâu mới làm được điều này.  Chúng tôi với sự mô tả các sự kiện toàn cầu và thử thách nhân quyền phần nào liên quan với nhau, đó là điều không thể tránh khỏi, bất kể về quy mô lớn nhỏ, địa điểm hoặc mục đích của nó. Nhiều năm qua hầu hết các cơ sở văn hóa coi trọng khán giả hơn, với tư duy lấy khán giả làm trung tâm cũng mang lại những lợi ích to lớn —đó  tương tác tốt hơn, đi đúng hướng hơn và còn nhiều hơn thế nữa. Nhưng đã đến lúc phải tiến thêm một bước nữa. Chúng ta phải học cách đặt con người lên hàng đầu, bắt đầu bằng việc chấp nhận nhân quyền và tôn trọng tất cả mọi người là trách nhiệm của chúng ta. 

2022-03-30

Về tác giả: Bà Viên Tự Văn Tự Văn (Emily) là trợ lý nghiên cứu về quảng bá giáo dục tại Bảo Tàng Quốc Gia Đài Loan. Nghiên cứu của bà tập trung vào chủ đề chính là sự bao dung của xã hội Đài Loan với những người di cư quốc tế và khả năng tiếp cận với bảo tàng. Năm 2015, bà được giao nhiệm vụ thực hiện dự án đào tạo những người nhập cư trở thành hướng dẫn viên trong bảo tàng, bao gồm các chuyến tham quan đa ngôn ngữ, chủ yếu bằng các ngôn ngữ Đông Nam Á, tiếng Anh và tiếng Trung, đồng thời hỗ trợ xây dựng mối liên kết giữa bảo tàng và các khu cộng đồng di dân. Từ năm 2016, bảo tàng đã hợp tác chặt chẽ với cộng đồng người Đông Nam Á, cho đến nay, hai bên đã tổ chức một số lễ hội nghệ thuật liên quan đến văn hóa của Đông Nam Á, triển lãm, các hoạt động giáo dục, v...v..., cũng như giải thích các bộ sưu tập của các nước Đông Nam Á. Lời giới thiệu:Bảo Tàng Quốc Gia Đài Loan Bảo Tàng Quốc Gia Đài Loan được thành lập vào năm 1908, là bảo tàng lâu đời nhất ở Đài Loan. Vào năm 1915, toà nhà bảo tàng này mới hoàn thành việc xây dựng tại địa điểm hiện nay. Trong hơn một thế kỷ qua, nhà bảo tàng đã toạ lạc ở trước ga xe lửa Đài Bắc, với vị trí độc đáo và các bộ sưu tập phong phú khiến Bảo tàng Quốc gia Đài Loan trở thành một tòa nhà mang tính kiến trúc không thể thiếu ở thành phố Đài Bắc. Các bộ sưu tập của bảo tàng tiếp tục trọng điểm vào nhân chủng học, khoa học địa cầu, động vật học, thực vật học, văn hóa đa dạng. Các chủ đề về bình đẳng văn hóa và những đóng góp đa dạng được Bảo tàng Đài Loan bổ sung trong mười năm qua, đáp ứng với xu hướng xã hội mới nhất của việc di cư xuyên quốc gia. Thông qua các cuộc triển lãm theo chủ đề, hoạt động về giáo dục, xuất bản phẩm và các loại chương trình văn hóa đa quốc gia, bảo tàng đạt được mục tiêu giáo dục là phục vụ công chúng của các nền văn hóa khác nhau. Lời nói đầu Bảo Tàng Nhân Quyền Quốc Gia Đài Loan (NHRM) là nơi tưởng niệm quan trọng, nhắc nhở người Đài Loan nhớ về thời kỳ khủng bố trắng có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển và tiến bộ của nền dân chủ Đài Loan. Bảo tàng cũng là một trung tâm giáo dục về lịch sử của những vụ xâm phạm nhân quyền, ủng hộ các chủ đề nhân quyền, mở rộng các khái niệm nhân quyền và thúc đẩy các giá trị nhân quyền toàn cầu để bảo vệ dân chủ và nhân quyền của Đài Loan   Với sự công nhận và hỗ trợ của Liên Đoàn Quốc Tế Bảo Tàng Nhân Quyền (FIHRM), một tổ chức quan trọng thuộc Hội Đồng Bảo Tàng Quốc Tế (ICOM) và các đơn vị liên quan, các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia, Bảo Tàng Nhân Quyền Quốc Gia Đài Loan đã thành lập Chi nhánh Châu Á - Thái Bình Dương của Liên Minh Quốc Tế Bảo Tàng Nhân Quyền (FIHRM-AP).   Nhiệm vụ mới của Bảo tàng Nhân quyền Quốc gia Đài Loan và Chi nhánh Châu Á - Thái Bình Dương của Liên minh Quốc tế Bảo tàng Nhân quyền là hòa nhập các vấn đề nhân quyền trong nước vào bối cảnh các phong trào mang yếu tố nước ngoài và  toàn cầu. Hai đơn vị đã và đang ứng phó với các vấn đề quốc tế về nhân quyền bằng cách xây dựng trang web, và đóng vai trò nền tảng / cầu nối để thúc đẩy đàm phán giữa chính phủ, các tổ chức phi lợi nhuận, bảo tàng và cộng đồng nhập cư xuyên quốc gia tại Đài Loan. Diễn đàn này cũng là lần đầu tiên các nhân viên bảo tàng và những người làm công tác tổ chức phi lợi nhuận có cơ hội thảo luận trực tiếp, xem xét các vấn đề và làm việc với nhau để giải quyết các đề tài về người di cư xuyên quốc gia và nhân quyền ở Đài Loan.   Chủ ý, xuất xứ của diễn đàn và hội thảo Nhiều vấn đề do làn sóng di cư quốc tế đổ vào các thành phố đích điểm, đã trở thành một thách thức cho các bảo tàng đương đại. Chủ ý chính của diễn đàn này là làm thế nào bảo tàng dựa vào giao tiếp giữa các nền văn hóa chào đón người nhập cư, chống lại những định kiến, phân biệt đối xử và tâm lý bài ngoại . Ngoài ra cũng thảo luận làm thế nào để bảo tàng có thể xây dựng một kho lưu trữ về đề tài nhân quyền người di cư, bảo tồn các di tích lịch sử và di tích văn hóa, sưu tầm các vật dụng cá nhân, các câu chuyện và kỷ niệm tập thể. Thông qua các cuộc thảo luận chuyên sâu trong ba ngày của các diễn đàn và hội thảo, các diễn giả đến từ Đài Loan, Úc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Bangladesh, Tubo (Tây Tạng) và Nam Sudan đã chia sẻ quan điểm và kinh nghiệm của họ trong việc ứng phó với xu hướng gia tăng toàn cầu về làn sóng di chuyển và các vấn đề liên quan đến nhân quyền, dựa trên cơ sở bảo tàng học làm phong phú thêm các công việc thực tế, lý thuyết và kinh nghiệm.   Chủ đề diễn đàn ngày 20 tháng 10 : Trang web Bảo tàng Di cư và Công bằng Xã hội Phiên họp thứ nhất: Thiết kế sơ đồ đối thoại và giao tiếp giữa bảo tàng với cộng đồng người di cư (công nhân) và công chúng   Rohini Kappadath, người phụ trách Bảo tàng Di cư trực thuộc Bảo tàng Victoria ở Úc, đã đề xuất những cách sau đây làm cơ sở cho các bảo tàng thực thi nhân quyền:   Nghiêm chỉnh với vai trò mới của viện bảo tàng; Xem lại các chính sách đã lỗi thời của bảo tàng; Luôn tự hỏi bản thân liệu chúng ta có đang cẩn thận lắng nghe tiếng nói của các cộng đồng nhập cư - những người mà chúng ta muốn hợp tác làm việc trong tương lai hay không. Rohini cũng chia sẻ những phương pháp làm việc phong phú của mình từ kinh nghiệm nhiều năm phục vụ Bảo tàng Di cư tại Úc. Hai diễn giả tiếp theo là Viên Tự Văn và Lí Ánh Huyên đến từ Đài Loan. Họ đã chia sẻ những chính sách gần đây của Bảo tàng Quốc gia Đài Loan và Bảo tàng Lao động TP-Cao Hùng. Vào những năm 1990, làn sóng đầu tiên của lao động nhập cư từ các nước Đông Nam Á vào Đài Loan. Đến năm 2021, Đài Loan đã có hơn 700.000 lao động nhập cư từ các nước Đông Nam Á và hơn 300.000 người nhập cư. Người lao động nhập cư vào Đài Loan cho các nhu cầu về cơ sở công trình xây dựng, đánh bắt xa bờ, ngành sản xuất và giúp việc nhà. Hầu hết những tân di dân đến từ Đông Nam Á tại Đài Loan là những người nhập cư theo diện hôn nhân, và họ cũng trở thành thành viên trong gia đình và là lực lượng lao động cơ bản của Đài Loan. Tuy nhiên, xã hội Đài Loan có quan niệm gần như ăn sâu bén rễ về sự coi thường những người nhập cư Đông Nam Á, quan niệm này rất khó lay chuyển. Những rào cản về văn hóa và ngôn ngữ, định kiến và sự cố chấp khiến người lao động nhập cư và tân di dân (vợ / chồng người nước ngoài) bị hiểu lầm và bị ngược đãi tại Đài Loan. Bảo tàng được thành lập sớm nhất ở Đài Loan, cũng là Bảo tàng Quốc gia Đài Loan (gọi tắt là Đài Bảo) ở Đài Bắc, vào năm 2015 phát hành "Dịch vụ hướng dẫn đa ngôn ngữ", tuyển dụng những tân di dân Đông Nam Á làm hướng dẫn viên của bảo tàng, để đồng hương của những người nhập cư tại nước này có những sự trải nghiệm bảo tàng mà không có rào cản về ngôn ngữ (Ảnh 1). Ngoài ra, Bảo tàng Quốc gia Đài Loan cũng chủ động liên hệ với cộng đồng lao động nhập cư và cùng nhau lên kế hoạch cho các lễ hội đa văn hóa, các thành viên trong cộng đồng tự tổ chức và sắp xếp nội dung chương trình (Ảnh 2). Vì vậy, những tân di dân và lao động nhập cư tại Bảo tàng Quốc gia Đài Loan có thể thoải mái thể hiện những nét đẹp văn hóa của họ.